1. Khái niệm:   

Đau mắt đỏ (hay còn gọi là viêm kết mạc) là tình trạng nhiễm trùng mắt, thường gặp do vi khuẩn hoặc vi-rút gây ra hoặc do phản ứng dị ứng, với triệu chứng đặc trưng là đỏ mắt. Bệnh thường khởi phát đột ngột, lúc đầu ở một mắt sau lan sang mắt bên kia. Bệnh đau mắt đỏ rất dễ mắc, dễ lây lan trong cộng đồng và gây thành dịch. Cho đến nay chưa có vắc-xin phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và những người bị đau mắt đỏ rồi vẫn có thể bị nhiễm lại chỉ sau vài tháng khỏi bệnh.

2. Nguyên nhân:

-        Nguyên nhân chủ yếu của bệnh đau mắt đỏ là do vi-rút Adenovirus, hoặc do vi khuẩn như liên cầu, tụ cầu, phế cầu gây ra.

-        Bệnh thường gặp vào mùa Hè đến cuối mùa Thu, khi thời tiết từ nắng nóng chuyển sang mưa, độ ẩm không khí cao, khi giao mùa… Bởi lẽ, đây là những thời điểm mà cơ thể con người, nhất là những người nhạy cảm với thời tiết dễ bị mệt mỏi, hệ thống miễn dịch yếu nên dễ bị nhiễm bệnh.

-        Bên cạnh đó, môi trường nhiều khói bụi, điều kiện vệ sinh kém, sử dụng nguồn nước ô nhiễm, dùng chung đồ dùng sinh hoạt như khăn mặt, gối… cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển và bùng phát thành dịch.

3. Triệu chứng: 
Thông thường, thời gian ủ bệnh và phát bệnh rất ngắn. Vào những ngày đầu, người bệnh sẽ thấy mắt hơn cộm, có khi cảm thấy nóng rát, mi mắt sưng nhẹ. Sau 2 - 3 ngày

-        Đỏ một hoặc cả hai mắt.

-        Ngứa một hoặc cả hai mắt.

-        Cảm giác có sạn ở trong mắt.

-        Chảy nước mắt, rỉ dịch ở một hoặc hai mắt.     

Nếu lúc đầu ở một bên thì 3 - 4 ngày sau có thể sang cả hai bên (ở hai mức độ khác nhau). Bệnh có thể không cân xứng, một mắt nặng hơn mắt kia.

4. Biến chứng          

Bệnh đau mắt đỏ cũng có biến chứng nhưng thường rất ít xảy ra. Đó là biến chứng thâm nhiễm dưới biểu mô giác mạc, có thể kéo dài trong vài tháng, gây giảm thị lực, chói mắt khi ra nắng. Đa số người mắc bệnh đau mắt đỏ đều có thể tự khỏi bệnh. Do đó, với bệnh này, chỉ điều trị hỗ trợ, đem lại sự dễ chịu cho người bệnh và tránh lây lan. Không tự dùng thuốc nhỏ có chất corticoid (dexamethasone) hoặc những thuốc dân gian như đắp ếch nhái, lá nha đam, xông lá trầu… vì dễ gây biến chứng cho mắt viêm giác mạc, giảm thị lực.

Một chuyên gia y tế của tập đoàn chuyên quản lý các bệnh viện lớn trên thế giới tại Việt Nam cho biết: “Với số lượng bệnh nhân viêm mắt đỏ hiện nay tại Việt Nam, dù là rất nhiều và cao hơn thời điểm xuất hiện dịch ban đầu nhưng so với đánh giá chung của thế giới thì vẫn chưa thể gọi là đại dịch. Và có một điều ít ai chú ý và quan tâm, dù nó rất quan trọng, đó là đau mắt đỏ có thể tái phát trên chính một bệnh nhân chỉ sau 15 – 25 ngày hết bệnh. Bệnh đau mắt đỏ (hay còn gọi là viêm kết mạc) là do virut tấn công, nên nếu trong người còn virut hoặc có virut mới tấn công thì bệnh nhân vẫn bị lại như thường. Vì thế, cả người đã – đang và có nguy cơ sẽ bị bệnh đều phải hết sức cẩn trọng với sức khỏe của chính mình”.

5. Đường lây bệnh

-        Bệnh đau mắt đỏ có thể lây qua:

-        Tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh qua đường hô hấp, nước mắt, nước bọt, bắt tay, đặc biệt nước mắt người bệnh là nơi chứa rất nhiều vi-rút.

-        Cầm, nắm, chạm vào những vật dụng nhiễm nguồn bệnh như tay nắm cửa, nút bấm cầu thang, điện thoại; đồ vật, đồ dùng cá nhân của nguời bệnh như khăn mặt, chậu rửa mặt… Dùng chung đồ dùng sinh hoạt như khăn mặt, gối.

-        Sử dụng nguồn nước bị nhiễm mầm bệnh như ao, hồ, bể bơi.

-        Thói quen hay dụi mắt, sờ vào mũi, vào miệng.

-        Bệnh viện, công sở, lớp học, nơi làm việc, nơi công cộng, trên xe buýt, tàu hỏa, máy bay… những nơi có mật độ người đông, cự ly gần rất dễ lây bệnh.

6. Hướng điều trị:

Tùy nguyên nhân mà dùng các thuốc phù hợp.

6.1 ĐMĐ do virut, vi khuẩn:

-        ĐMĐ do vi khuẩn được điều trị bằng kháng sinh do bác sĩ khám và kê đơn. Kháng sinh có thể được dùng dưới dạng nhỏ mắt, mỡ hoặc viên uống. Thuốc nhỏ hoặc mỡ cần được tra trong mắt 3 - 4 lần một ngày trong 5 - 7 ngày         

-        ĐMĐ do virut không đáp ứng với điều trị bằng thuốc tra mắt nước hoặc mỡ kháng sinh. Có thể dùng thuốc không cần kê đơn để giảm triệu chứng vì virut phải tiến triển hết quá trình của nó. Kháng sinh chloramphenicol có thể dùng để phòng nhiễm khuẩn thứ phát. ĐMĐ do virut sẽ thấy các triệu chứng trầm trọng hơn vào 3 - 5 ngày đầu. Sau đó các triệu chứng giảm dần và bệnh có thể tự khỏi. ĐMĐ do virut và vi khuẩn đều rất dễ lây. Người lớn cũng như trẻ em đều có thể bị hai loại nguyên nhân này nhưng ĐMĐ do vi khuẩn hay gặp ở trẻ em hơn.

6.2 ĐMĐ do dị ứng:

-        ĐMĐ do dị ứng thường bị ở cả hai mắt và là một phản ứng dị ứng với chất gây dị ứng. Trong phản ứng dị ứng, cơ thể tạo ra một kháng thể gọi là IgE. Kháng thể này khởi động các tế bào đặc biệt gọi là các tế bào mast trong lớp nhầy của mắt và đường thở để giải phóng các chất kháng viêm là histamin. Việc giải phóng histamin có thể gây ra nhiều triệu chứng dị ứng trong đó có đỏ mắt. Nếu bị ĐMĐ dị ứng sẽ rất ngứa, chảy nước mắt và viêm mắt, hắt hơi, sổ mũi, có thể phù nề kết mạc trông như vết phỏng trong lòng trắng.    

-        Thuốc kháng histamin, thuốc thông mũi, ổn định tế bào mast, chống viêm steroid và các thuốc chống viêm khác. Thuốc tra corticoid thường được dùng nhưng cần có sự giám sát của bác sĩ mắt. Quan trọng là phải phát hiện được nguyên nhân gây dị ứng để loại bỏ.

6.3 ĐMĐ do nhiễm hóa chất:

-        Triệu chứng kích thích do nhiễm hóa chất hoặc dị vật cũng có liên quan đến ĐMĐ. Đôi khi việc rửa để loại bỏ hóa chất hoặc dị vật có thể gây đỏ mắt. Triệu chứng thường bao gồm dử nhày mắt, không có mủ, thường tự khỏi trong vòng một ngày. 

Dùng nước ấm rửa mắt trong vòng 5 phút. Mắt có thể dễ chịu hơn trong vòng 4 tiếng sau rửa chất kích thích, nếu không đỡ cần gặp bác sĩ.

7. Phòng bệnh:

-        Đôi mắt là bộ phận nhạy cảm và dễ bị tổn thương trên cơ thể, đồng thời cũng là bộ phận thể hiện rõ về sức khỏe của mỗi người. Do đó, cần quan tâm và chăm sóc mắt mỗi ngày. Để mắt luôn khoẻ mạnh, khi làm việc ở môi truờng máy lạnh, tránh để gió của máy hướng thẳng vào mắt, ngồi máy tính khoảng 30 phút có thể nhắm mắt nghỉ vài phút. Khi ở môi truờng gió bụi nên đeo kính râm, còn khi cảm thấy khô mắt có thể dùng những thuốc sát khuẩn nhẹ để giữ ẩm.

-        Sử dụng thuốc nhỏ mắt hàng ngày (nước muối sinh lý 0.9%) đối với người bệnh và cả những người khỏe mạnh giúp loại bỏ bụi bẩn và phòng ngừa các bệnh đau mắt hiệu quả.

-        Chế độ ăn uống chứa đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho mắt, nhất là vitamin A. Các loại thành phần dinh dưỡng tốt cho mắt bao gồm cần tây, dầu cá, lòng đỏ trứng gà, gan động vật...        
Uống nhiều nước, khoảng 6 - 8 ly nước/ngày để giữ độ ẩm cần thiết cho mắt.

-        Ngủ đủ thời gian, ít nhất là 7 giờ/ngày, bởi đó là cách tốt nhất giữ cho đôi mắt luôn trẻ trung, khỏe mạnh và sẵn sàng cho một ngày mới.

-        Tuyệt đối không dùng tay bẩn hoặc khăn bẩn lau dụi mắt.

-        Cần giữ vệ sinh tay sạch sẽ bằng cách rửa xà phòng.

-        Tránh tiếp xúc và không dùng chung đồ dùng như khăn, chậu với người đau mắt đỏ.

-        Trong môi trường tập thể: Nhà trẻ mẫu giáo, trường hợp bị đau mắt đỏ cần được nghỉ ở nhà điều trị. 

Khi không có dịch

-        Luôn đảm bảo vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước sạch.

-        Dùng riêng khăn, gối, chậu rửa mặt.

-        Giặt sạch khăn mặt bằng xà phòng và nước sạch, phơi khăn ngoài nắng hàng ngày.

-        Không dùng tay dụi mắt.

Khi đang có dịch

-        Ngoài việc luôn thực hiện các biện pháp trên, cần lưu ý thực hiện thêm các biện pháp sau:

-        Rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.

-        Rửa mắt hàng ngày bằng nước muối sinh lý (nước muối 0,9%), ngày ít nhất 3 lần vào các buổi sáng, trưa, tối.

-        Không dùng chung thuốc nhỏ mắt, không dùng chung đồ đạc với người đau mắt.

-        Hạn chế tiếp xúc với người bị đau mắt.

-        Hạn chế đến những nơi đông người đặc biệt là những nơi có nhiều mầm bệnh như bệnh viện…

-        Hạn chế sử dụng các nguồn nước bị ô nhiễm, hạn chế đi bơi.

8. Cách xử trí khi có người bệnh hoặc nghi bị bệnh đau  mắt đỏ

-        Lau rửa ghèn, dử mắt ít nhất 2 lần một ngày bằng khăn giấy ẩm hoặc bông, lau xong vứt bỏ khăn, không sử dụng lại.

-        Không tra vào mắt lành thuốc nhỏ của mắt đang bị nhiễm khuẩn.

-        Tránh khói bụi, đeo kính mát cho mắt.

-        Những trẻ em bị bệnh nên nghỉ học, không đưa trẻ đến trường hoặc những nơi đông người trong thời gian bị bệnh.

-        Khi trẻ bị đau mắt, thông thường sẽ bị 1 bên mắt trước, bố mẹ và người nhà cần chăm sóc trẻ thật cẩn thận, để tránh nhiễm bệnh cho mắt còn lại. Cho trẻ nằm nghiêng một bên, nhỏ mắt rồi dùng gạc y tế lau ngay ghèn, dử và nước mắt chảy ra (làm tương tự đối với người lớn).

-        Tránh ôm ấp khi trẻ em bị bệnh, ngủ riêng.

-        Trước và sau khi vệ sinh mắt, nhỏ mắt, cần rửa tay thật sạch bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.

-        Người bệnh cần được nghỉ ngơi, cách ly, dùng thuốc theo đơn của thầy thuốc. Không tự ý mua thuốc nhỏ mắt. Không dùng thuốc nhỏ mắt của người khác.

-        Không đắp các loại lá vào mắt như là trầu, lá dâu...

-        Nếu bệnh không thuyên giảm sau vài ngày phải đến ngay cơ sở y tế để được khám, điều trị.

9. Các câu hỏi liên quan:

Câu 1: Bị đau mắt đỏ có cần cách ly không?

Bệnh nhân có thể điều trị tại nhà theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa mắt nhưng cần chú ý giữ gìn vệ sinh để tránh lây bệnh cho những thành viên khác trong gia đình và cộng đồng. Đeo kính râm và khẩu trang khi phải tiếp xúc với người khác. Không dùng chung khăn, chậu rửa mặt, gối…, hạn chế chạm vào đồ vật trong nhà. Khi đã bị đau mắt đỏ, tốt nhất là nghỉ học, nghỉ làm, nếu không có việc gì thật cần thiết thì không nên ra nơi công cộng. Nên giữ gìn như vậy cả khi đã khỏi đau mắt, trong vòng một tuần.

Câu 2: Điều trị đau mắt đỏ khi mang thai như thế nào?

Ở phụ nữ mang thai, cơ thể có sự giảm sút khả năng miễn dịch nên rất dễ lây bệnh. Và do là đối tượng nhạy cảm, nếu dùng thuốc không theo chỉ định của bác sĩ sẽ ảnh hưởng đến thai nhi, nhất là phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu.

Do đó, nên đi khám bác sĩ chuyên khoa mắt để được chỉ định dùng thuốc đúng, tránh ảnh hưởng đến thai nhi. Bên cạnh đó, nên đeo kính râm, khẩu trang, rửa tay thường xuyên và không dụi tay lên mắt để ngăn chặn bệnh nặng lên và giảm thiểu khả năng lây bệnh cho người xung quanh.

Có thể sử dụng nước muối sinh lý 0,9% để nhỏ thường xuyên 5-6 lần/ngày giúp rửa trôi mầm bệnh, chất tiết và gỉ mắt, làm dịu mắt. Đối với bà bầu chưa bị bệnh cũng nên tra nước muối sinh lý 0,9% hằng ngày để phòng ngừa đau mắt đỏ, nhất là trong gia đình đã có người mắc bệnh này.

Câu 3: Đau mắt đỏ có ảnh hưởng đến thai nhi không?

Đau mắt đỏ không ảnh hưởng gì tới thai nhi. Nên vệ sinh mắt sạch sẽ, hàng ngày nên nhỏ nước muối sinh lý 0,9%.

Câu 4: Có nên dùng các phương thức điều trị dân gian khi bị ĐMĐ không?

Rất nhiều người nghiện xông lá trầu không, lá dâu, lá tre... Kinh nghiệm cho thấy, các phương pháp này tuy có làm người bệnh dễ chịu đôi chút nhưng không hề làm bệnh mau khỏi, chưa kể một số bệnh nhân xông lá có thể gây bỏng mắt, trợt giác mạc, xuất huyết dưới kết mạc và sưng nề hơn sau khi xông lá. Uống lá dấp cá, uống chè hoa cúc có vẻ khả dĩ hơn phương pháp xông lá.

Câu 5: Những người đau mắt đỏ có phải kiêng đồ ăn tanh không?

Theo các chuyên gia dinh dưỡng thì người bệnh không phải kiêng thức ăn tanh, trừ trường hợp bị dị ứng thì phải kiêng thức ăn đã bị dị ứng.   

Ăn uống đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho mắt, nhất là vitamin A. Các loại thành phần dinh dưỡng tốt cho mắt bao gồm cần tây, dầu cá, lòng đỏ trứng gà, gan động vật...

Tránh những đồ ăn nước uống kích thích như ớt, hạt tiêu, cà phê, rượu…

Câu hỏi 6 : Đau mắt đỏ có lây qua ăn uống không?      
Đau mắt đỏ là bệnh rất dễ lây do virus có rất nhiều trong nước mắt và dử mắt người bệnh.

            Chỉ cần dùng chung khăn, chậu rửa mặt, thậm chí bệnh nhân dụi mắt và cầm nắm vào các đồ vật là đủ để lây bệnh cho những người tiếp xúc với chúng. Đây là nguyên nhân khiến bệnh dễ lây rộng, đặc biệt là trong gia đình, lớp học, hồ bơi.

            Bệnh có thể lây qua đường hô hấp. Người bị đau mắt đỏ, trong nước mắt có chứa rất nhiều virus và khi bệnh nhân nói chuyện, ho hoặc hắt hơi thì virus sẽ theo nước bọt bắn ra ngoài và lây bệnh cho người khác.

            Với trường hợp người chế biến thức ăn bị đau mắt đỏ, nếu người chế biến lấy tay dụi mắt, hoặc hắt xì hơi… rồi lại lấy thức ăn, bát đũa cho khác hàng cũng có khả năng lây bệnh cho khách. Khi đó, nếu bạn cầm vào bát đũa đó, virus có thể đã trú ngụ ở tay, chỉ chờ thời cơ là lây bệnh.

            Do vậy, khi bị đau mắt đỏ, nên nghỉ bán hàng để tránh lây lan cho khách. Khi buộc phải chế biến thức ăn cho khách cần đeo kính, khẩu trang, găng tay… để tránh lây lan bệnh cho người khác. Nhưng cách tốt nhất vẫn là cách ly người bệnh với người xung quanh.

            Người bệnh cần có ý thức không nên sờ mó vào mắt đau, không bắt tay người khác, không dùng chung khăn mặt... Khi bị bệnh, cũng không nên tới những nơi công cộng như bể bơi, trường học. Khi đi ra ngoài, nên đeo kính, khẩu trang…

Câu 7: Có phải nhìn vào mắt, hôn hoặc quan hệ tình dục với người bệnh sẽ bị lây đau mắt ?

Nhìn vào mắt , hay quan hệ tình dục với người bệnh không lây nhiễm nếu không có sự tiếp xúc trực tiếp chất tiết của mắt người bệnh với mắt người lành. Vi khuẩn sau mắt đỏ chỉ lây qua đường hô hấp. Tuy nhiên khi bị đau mắt tránh quan hệ tinh dục. Trường hợp lây sau khi hôn có thể do hai bên dính phải chất tiết từ mắt nhau.