1. Sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi:


Sức khỏe răng miệng đặc biệt quan trọng đối với người cao tuổi vì họ thường dễ mắc các bệnh hệ thống có ảnh hưởng đến vùng miệng và lúc đó thì những tổn thương vùng miệng lại tác động ngược lại một cách trực tiếp hay gián tiếp trên tình trạng dinh dưỡng giao tiếp, khả năng đề kháng và chất lượng cuộc sống nói chung.


Tuổi không phải là yếu tố ảnh hưởng chính trên sức khỏe răng miệng. Các bệnh răng miệng (sâu răng, bệnh nha chu, bệnh niêm mạc miệng, rối loạn tiết nước bọt, tiêu xương ổ), các bệnh toàn thân (tiểu đường, tai biến mạch máu não, Alzheimer), những thuốc uống thường xuyên, xạ trị vùng đầu cổ do ung thư, mới chính là những yếu tố làm cho những người cao tuổi dễ bị những xáo trộn vùng miệng và hầu. Ngược lại hậu quả của các bệnh răng miệng không chỉ giới hạn ở vùng miệng mà có thể đưa các mầm vào dòng máu hay vào hệ hô hấp có thề gây hậu quả nghiêm trọng đến tíng mạng. Các bệnh ngoài da gây bóng nước trong miệng có thể làm cho bệnh nhân dễ mắc những bệnh ở vùng miệng hầu.


Ngày nay do người cao tuổi còn giữ được răng thật lâu hơn ngày xưa nên dễ bị những bệnh toàn thân do nhiễm trùng răng hơn. Ngoài ra do họ chú ý nhiều hơn đến sức khỏe răng miệng nên nhu cầu răng miệng cũng cao hơn.

 

2. Biến đổi ở răng:


Những biến đổi ở răng bao gồm: Mòn mặt nhai, tủy bị xơ teo, giảm mật độ tế bào, tạo ngà thứ cấp, ngà ngạnh hóa dần bị mất nước, răng dòn dễ mẻ dễ bị gãy. Có sự tăng tạo xê măng ở chân. 

 

Người cao tuổi vẫn bị sâu mới và tái phát ở thân răng nhưng dễ bị sâu hơn ở chân răng. Tụt nướu, giảm tiết nước bọt, biện pháp vệ sinh bớt hiệu quả, chức năng nhai giảm sút, đó là những lý do làm cho dễ bị sâu chân răng. Do còn nhiều răng mang miếng trám lớn nên cũng dễ bị sâu tái phát.


Để chữa răng cho người cao tuổi nên sử dụng vật liệu phóng thích Fluor(F) như xi măng galss ionomer. Nên có chế độ theo dõi tình trạng răng miệng thường kỳ, can thiệp phòng bệnh bằng F tại chổ khi thấy có nguy cơ sâu răng tăng do giảm tiết nước bọt . Những người bị hạn chế về tri thức hay vận động trầm trọng cần sự hỗ trợ để thực hiện vệ sinh răng miệng hằng ngày.

 

3. Bệnh nha chu:


Tụt nướu , mất bám dính và tiêu xương gần như khó tránh khỏi người cao tuổi. Tuy nhiên quá trình tích tuổi không phải là nguyên nhân duy nhất đưa đến tình trạng mất răng. Nhiều yếu tố vùng miệng và bệnh toàn thân cũng như những loại thuốc thường được ghi toa cho người cao tuổi có thể ảnh hưởng xấu đến mô nha chu, chẳng hạn như bệnh tiểu đường, các thuốc chống cao huyết áp loại ức chế kênh Ca, thuốc chống co giật, cyelosporin…


Ngược lại bệnh nha chu cũng ảnh hưởng trên sức khỏe răng miệng và sức khỏe toàn thân của người cao tuổi. Bệnh nha chu là nguyên nhân gây hôi miệng, làm răng lung lay, mất răng và do đó ảnh hưởng đến chức năng nhai, nuốt, nếm và dinh dưỡng. Bệnh nha chu có thể ảnh hưởng đến bệnh tim mạch, nội tiết, hô hấp và bệnh nhiễm khuẩn. Bệnh nha chu ở người cao tuổi có thể điều trị và có khả năng lành bệnh, tuy có hơi chậm hơn ở người trẻ, nếu điều trị thích hợp và có biện pháp giữ gìn vệ sinh răng miệng tốt. Ở bệnh nhân cao tuổi nên dùng biện pháp điều trị nha chu bảo tồn và thuốc kháng sinh.

 

4. Niêm mạc miệng:


Niêm mạc miệng có những biến đổi do tích tuổi và do những bệnh miệng. Biểu mô niêm mạc miệng, là biểu mô lát tầng, teo mỏng dần với tuổi, mất tính đàn hồi, đồng thời do đáp ứng miễn dịch giảm nên dễ bị chấn thương và dễ nhiễm trùng...


Ở người cao tuổi, những biến đổi tại chổ, do bệnh toàn thân và thuồc làm cho niêm mạc miệng dễ bị một số thương dạng bóng nước, loét, liken, nhiễm khuẩn và ung thư 90% ung thư miệng xảy ra ở người trên 50 tuổi, do đó cần khám định kỳ để phát hiện và điều trị sớm ung thư miệng.

 

5. Tuyến nước bọt:


Những nghiên cứu gần đây cho thấy là ở người cao tuổi khỏe mạnh, tổng lưu lượng nước bọt không giảm. Tuy nhiên rất nhiều người cao tuổi than phiền về khô miệng. Các bệnh toàn thân, thuốc và xạ trị là nguyên nhân chính gây khô miệng. Hơn 400 thứ thuốc có tác dụng phụ làm giảm tiết nước bọt (chống trầm cảm ,an thần, chống Parkinson ). Một số bệnh như bệnh Sjogren, bệnh tự miễn, Alzheimer có thể gây khô miệng. Khô miệng gây nhiều vấn đề ở miệng và hầu ở người cao tuổi: Niêm mạc khô và dễ trầy sướt, giảm khả năng chống nhiễm khuẩn, giảm sự bôi trơn, tăng nguy cơ viêm nướu, nhiễm nấm, đau, khó ăn, khó nuốt, nếm, khó lưu hàm giả tháo lắp. Do đó cần chẩn đoán và hạn chế hậu quả của khô miệng. Để làm giảm khô miệng, cần thay thế thuốc có tác dụng phụ gây khô miệng, dùng nước bọt nhân tạo. Thực hiện các biện pháp vệ sinh răng miệng tốt, kích thích tuyến nước bọt bằng vị giác, nhờ nhai và dùng thuốc, thực hiện chế độ ăn và uống phù hợp là những biện pháp lâu dài để chống khô miệng ở người cao tuổi.

 

6. Chức năng vận động và cảm giác vùng miệng:


Xáo trộn chức năng, nuốt và tư thế cơ miệng thường xảy ra với tuổi . Nhai và nuốt ở người cao tuổi, ngay cả ở những người còn đủ răng, kém hiệu quả hơn ở người trẻ. Tuy nhiên điều này sẽ không gây khó khăn trừ khi có thêm những bệnh toàn thân (tai biến mạch máu não, Parkinson) hay có dùng thuốc (loạn vận động do phenothiazine) làm cho dễ bị sặc hay hít vào đường thở. Bệnh thoái hoá khớp (osteo-arthritis) có thể ảnh hưởng trên khớp TDH nhưng nói chung người cao tuổi ít than phiền về loạn năng bộ máy nhai hơn người trẻ.


Nhiều người cao tuổi than là ăn không biết ngon, khó cảm nhận được mùi và vị. Những nghiên cứu gần đây cho thấy nếu mùi ít bị ảnh hưởng do tuổi thì vị giác lại giảm dần theo sự tích tuổi. Không cảm nhận được mùi vị, giảm sút về vận động, giảm tiết nước bọt dễ làm cho người cao tuổi chán ăn, bị suy dinh dưỡng, mất nước và bị giảm chất lượng cuộc sống.


Những biến đổi suy thoái ở vùng miệng không phải chỉ do quá trình tích tuổi mà phản ảnh những tình trạng bệnh tại chỗ đã có từ trước, đang có và tình trạng toàn thân cũng như các phương thức điều trị . Do đó chăm sóc răng miệng lúc trẻ là đảm bảo tốt nhất để có sức khỏe răng miệng tốt lúc cao tuổi “Ngày mai bắt đầu từ hôm nay’’

 

- Mòn răng ở người cao tuổi có nhiều nguyên nhân: Có thể là do quá trình tích tuổi, hay do những nguyên nhân khác như chải răng không đúng cách, chải răng với lực quá mạnh, ăn thức ăn quá cứng, uống nhiều nước ngọt có ga,v.v…răng có thể bị ê buốt khi ăn nhai, hoặc khi ăn nóng, lạnh.

 

- Răng bị lung lay, nướu sưng, đỏ hoặc chảy máu, có thể đau khi ăn nhai. Tình trạng này là do vệ sinh răng miệng không tốt kèm theo yếu tố tâm lí ngại đi khám răng nên diễn tiến của bệnh ngày càng trầm trọng hơn. Răng lung lay vẫn có thể điều trị được tuy nhiên thời gian điều trị kéo dài, bệnh nhân thường từ bỏ việc điều trị sau đó. Kết quả là không thể giữ lại được, phải nhổ răng.

 

- Sâu răng ở người cao tuổi: Người cao tuổi thường mắc chứng khô miệng. Đó có thể là do tác dụng của một số thuốc điều trị các bệnh lí toàn thân hoặc do xạ trị vùng đầu, mặt, cổ. Khô miệng rất dễ bị mắc một số bệnh lí về răng miệng như sâu răng, viêm nướu, nhiễm khuẩn, nhiễm nấm vùng miệng, có thể có đau, khó ăn, khó nuốt.

 

- Mất răng có hoặc không có răng giả, những răng thật còn lại chịu tải lớn nên ngày càng bị mòn nhiều hơn, làm giảm sức nhai trầm trọng, ăn uống khó khăn hơn.

 

Người cao tuổi thường mắc các bệnh toàn thân khác như tiểu đường, tim mạch, cao huyết áp, khi đến gặp bác sĩ nha khoa cần phải nói rõ cho bác sĩ biết tình trạng sức khỏe của mình để có kế hoạch điều trị phù hợp.

 

Để có một sức khỏe răng miệng tốt, việc chải răng sau khi ăn và trước khi đi ngủ rất quan trọng. Nếu người cao tuổi có đang mang hàm giả tháo lắp thì nên tháo ra khi ngủ, ngâm hàm giả trong nước, hoặc dung dịch sát khuẩn.

 

Người cao tuổi nên lưu ý không ăn những thức ăn quá cứng, quá nóng hoặc quá lạnh. Ăn thức ăn có chứa nhiều vitamin, chất khoáng, như rau, quả. Đặc biệt là uống nhiều nước.

 

Đối với người cao tuổi nên có một kế hoạch điều trị nha khoa một cách triệt để trước khi bước vào tuổi sáu mươi. Những răng bị sâu nên trám lại, nếu mất răng nên trồng lại răng giả mới. Vì càng lớn tuổi sức khỏe càng kém việc đi lại khó khăn, nên điều trị nha khoa triệt để là điều cần thiết ở giai đoạn này. Cũng nên lưu ý cho bác sĩ biết những bệnh người cao tuổi đang mắc phải để bác sĩ có kế hoạch điều trị một cách tốt nhất.


- Chải răng mỗi ngày bằng kem đánh răng có fluor ít nhất 2 lần: Vào buổi sáng sớm và tối trước khi đi ngủ. Lấy răng giả ra trước khi đánh răng. 

- Chải răng đúng cách bằng bàn chải mềm khắp các mặt nhai, mặt ngoài và trong răng.

- Khám kiểm tra răng miệng, ít nhất mỗi năm một lần.

 

7. Chăm sóc răng giả:

 

Bộ răng giả cần được chải sạch bằng bàn chải mềm mỗi ngày với loại bột chuyên dụng hoặc xà bông rửa tay vì răng giả cũng bị đọng các vụn thức ăn và mảng bám như răng thật. Các dung dịch tẩy rửa răng giả thường không đủ sức tẩy sạch hết các bẩn bám mà chỉ đủ làm mất mùi hôi. Không dùng các loại chất tẩy rửa gia dụng có tính ăn mòn hay độc hại. Khi không dùng, nên ngâm răng giả trong nước hay dung dịch làm sạch.

 

Một số thuốc điều trị bệnh kinh niên như thuốc huyết áp, tim mạch, bệnh Parkinson... có thể làm cho tuyến nước bọt tiết ra ít nước bọt hơn gây chứng khô miệng. Theo Tổ chức y tế thế giới, có tới 400 loại thuốc dùng để điều trị các bệnh mà người lớn tuổi thường mắc phải gây khô miệng. Điều này làm tăng nguy cơ bị sâu răng và bệnh nha chu. Khô miệng cũng làm cho khó chịu khi đeo răng giả vì nước bọt đóng vai trò như một chất làm nhờn. Nha sĩ sẽ cho bạn dùng các chất làm nhờn.

 

Thường dùng nhất là loại răng giả tháo ráp được. Loại răng này phải tựa vào các xương, răng gần bên, nhưng đến độ tuổi nào đó các xương chịu đựng chúng lại có khuynh hướng nhỏ đi, vì vậy răng giả có thể bị lỏng, không còn khít nữa và làm tổn thương các mô xung quanh, tạo cảm giác khó chịu. Vì vậy một hàm giả nên được thay mỗi 3 - 5 năm.