1. Nguyên nhân:

          Sau đây là một số giả thiết gợi ý về nguyên nhân của rối loạn ám ảnh cưỡng chế : 

Giả thiết sinh học : 

            - Rối loạn điều hoà chất dẫn truyền thần kinh serotonin trong não.

            - Sử dụng kỹ thuật chụp cắt lớp phát xạ positron ( PET) thăm dò chức năng não cho thấy có sự tăng hoạt động ở thùy trán, hạch đáy não và bó khuy.

            - Sử dụng kỹ thuật chụp cộng hưởng từ nhân ( MRI ) thăm dò hình thể não thấy có giảm kích thước nhân đuôi hai bên.

            - Về yếu tố di truyền cho thấy 35% con cái hay anh em người bệnh cũng bị bệnh này. 

Giả thiết về hành vi :

            - Ám ảnh là do một ý nghĩ nào đó kèm một phản ứng lo sợ cùng xuất hiện chung và lập đi lập lại nhiều lần mà tạo thành.

            - Xung động là cách thức mà bệnh nhân dùng để chống lại sự lo âu gây ra bởi ám ảnh. 

2. Triệu chứng:

            Tùy theo trường hợp mà bệnh nhân có thể chỉ có các triệu chứng ám ảnh hoặc triệu chứng xung động nhưng thường thì trong 75% trường hợp họ có cả 2 loại triệu chứng cùng một lúc. 

            Ám ảnh:  là các ý nghĩ xuất hiện ngoài ý muốn, lập đi lập lại và xâm chiếm toàn bộ suy nghĩ của bệnh nhân và điều này làm cho họ luôn cảm thấy lo âu hoặc bực bội. Thí dụ như bệnh nhân có thể có ý nghĩ là tất cả các vi sinh vật, bụi trong không khí có thể gây bệnh cho họ do đó họ rất sợ hãi và lo lắng khi phải đi ra khỏi nhà, khi bị người khác vô tình đụng phải hoặc khi phải ngồi trên những cái ghế lạ. Một thí dụ khác là ý nghĩ nghi ngờ, bệnh nhân luôn nghi ngờ không biết mình đã đóng các cửa sổ và khoá các cửa chính chưa khi đi ra ngoài dù trước đó đã kiểm tra rất cẩn thận .

            Xung động:  là nhu cầu thúc giục cần phải làm một điều gì đó, thường nhằm mục đích giảm sự lo âu do ám ảnh gây ra. Hành vi xung động thường có tính chất lập đi lập lại, luôn tuân theo một thứ tự nào đó và thường là hành vi có ý thức. Sau đây là một số thí dụ về các hành vi xung động thường gặp như :

            - Lau, rửa : do sợ dơ hay nhiễm vi trùng, họ luôn giặt quần áo hoặc bỏ chúng đi hoặc phải rửa tay, tắm giặt sau mỗi lần bị người khác vô tình đụng phải, sau khi dựa vào tường hay ngồi chỗ lạ. Dần dần họ không thể làm gì khác vì toàn bộ thời gian đã dành cho việc rửa tay, tắm, giặt đồ, thậm chí tay họ có thể có biểu hiện bong da do tiếp xúc với nước quá lâu và thường xuyên.

            - Lập đi lập lại : bệnh nhân cóthể nghĩ rằng nếu họ lập đi lập lại tên người thân nhiều lần trong ngày thì có thể sẽ giúp người thân họ tránh được tai hoạ.

            - Kiểm tra : bệnh nhân đã ra khỏi nhà nhưng vẫn phải quay về nhiều lần để kiểm tra xem có đóng và khoá cửa kỹ hay chưa hoặc đã bỏ thư vào phong bì dán lại nhưng vẫn phải mở ra kiểm tra nhiều lần xem có quên chi tiết nào hay không.

            - Tránh né : một bệnh nhân khi đi bộ trên đường luôn chú ý tránh né không dẫm lên các vết nứt trên đường, nếu chẳng may dẫm lên thì dù gần đến sở làm cũng phải chạy về nhà đi bộ lại từ đầu thì mới yên tâm…

            Dù là ám ảnh hay xung động cũng đều có nét chung là bệnh nhân hiểu rất rõ những điều đó là vô lý và thái quá, họ cũng rất muốn chống lại nhưng cuối cùng lại không thể làm khác đi được. Họ luôn cảm thấy xấu hổ và muốn giấu tất cả mọi người chung quanh về các triệu chứng trên cho đến khi bệnh quá nặng ai cũng nhận thấy và khuyên họ đi điều trị, thí dụ như bệnh nhân cuối cùng không dám ra khỏi nhà vì sợ bị dơ hoặc bệnh nhân luôn trễ giờ làm vì phải quay trở về nhà kiểm tra cửa quá nhiều lần... Thường trong thời gian đầu người chung quanh không ai nhận ra các dấu hiệu bệnh vì các triệu chứng chưa đủ nặng để ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống bệnh nhân. 

3. Điều trị:

Có thể sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp phương pháp điều trị hành vi và phương pháp điều trị bằng thuốc. 

- Phương pháp điều trị hành vi: 

            Nguyên tắc là cho bệnh nhân tiếp xúc với hoàn cảnh hay đối tượng gây sợ một cách từ từ hay đột ngột dưới sự kiểm soát của bác sĩ . Ngoài ra bác sĩ và bệnh nhân có thể thoả thuận với nhau giảm số lần thực hiện hành vi xung động. 

- Phương pháp điều trị bằng thuốc: 

          Có thể sử dụng các loại thuốc như clomipramine hay SSRI ... ./.Mục tiêu của điều trị rối loạn ám ảnh cưỡng chế bằng thuốc là để kiểm soát hiệu quả các dấu hiệu và triệu chứng ở liều thấp nhất có thể. Thuốc nào là tốt nhất phụ thuộc vào tình hình của riêng cá nhân. Nó có thể mất vài tuần sau khi lần đầu tiên bắt đầu một loại thuốc để thông báo một sự cải tiến trong các triệu chứng.

            Với rối loạn ám ảnh cưỡng chế, nó không phải bất thường để thử một số loại thuốc trước khi tìm một trong đó hoạt động tốt kiểm soát các triệu chứng. Bác sĩ cũng có thể khuyên nên dùng thuốc kết hợp, chẳng hạn như thuốc chống trầm cảm và thuốc chống loạn thần, để làm cho hiệu quả hơn trong việc kiểm soát các triệu chứng.

            Không ngừng dùng thuốc mà không nói chuyện với bác sĩ, ngay cả khi đang cảm thấy tốt hơn. có thể tái phát các triệu chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế nếu ngừng dùng thuốc. Ngoài ra, một số thuốc cần được giảm dần đi, thay vì dừng lại đột ngột, để tránh triệu chứng cai.

Tác dụng phụ và nguy cơ của thuốc:

            Tất cả các thuốc tâm thần có tác dụng phụ và nguy cơ sức khỏe. Hãy chắc chắn nói chuyện với bác sĩ về tất cả các tác dụng phụ có thể, và theo dõi sức khỏe là cần thiết trong khi dùng thuốc tâm thần, đặc biệt là thuốc chống loạn thần. Một số thuốc có thể có tương tác nguy hiểm với các thuốc khác, thực phẩm hoặc các chất khác. Hãy báo bác sĩ về tất cả các loại thuốc và các vitamin, khoáng chất và thảo dược bổ sung.

4. Phòng chống:

            Không có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Tuy nhiên, việc điều trị càng sớm càng tốt có thể giúp ngăn ngừa chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế xấu đi.