1. Nguyên nhân:

            Bệnh tuy là nội sinh nhưng thường có thể xuất hiện sau các sang chấn tâm lý (thất tình, tang tóc, căng thẳng tâm lý hay vui quá...).

2. Biểu hiện, triệu chứng:

a. Trầm cảm:

Có những biểu hiện đặc trưng sau:

            - Khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú. Giảm năng lượng, tăng mệt mỏi, dù chỉ một cố gắng nhỏ.

Thường có những triệu chứng phổ biến khác là:

            - Giảm sự tập trung chú ý. Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin. Có ý tưởng bị tội không xứng đáng. Nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan. Ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát.

            - Rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng.

            - Thể nặng thường có các triệu chứng sinh học sút cân, mất 5% trọng lượng cơ thể/1tháng. Giảm dục năng, mất ngủ, thức giấc sớm.

b. Hưng cảm:

Hưng cảm nhẹ:

            - Tăng khí sắc nhẹ và dai dẳng nhiều ngày. Tăng năng lượng và hoạt động. Tăng tình dục.

            - Cảm giác thoải mái, làm việc có hiệu suất, dễ chan hoà, ba hoa, suồng sã, có thể cáu kỉnh, tự phụ, thô lỗ.

            - Ít ngủ (giảm nhu cầu ngủ). Khả năng tập trung chú ý giảm. Tiêu tiền hơi nhiều.

            - Không gián đoạn công việc.

Hưng cảm vừa (Hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần):

            -  Khí sắc tăng cao không tương xứng với hoàn cảnh bệnh nhân. Có thể thay đổi từ vui vẻ đến kích động gần như không thể kiểm tra được.

            - Tăng năng lượng, hoạt động thái quá, nói nhanh. Giảm nhu cầu ngủ. Mất khả năng kiềm chế xã hội thông thường. Chú ý không thể duy trì được, đãng trí rõ rệt. Tự cao quá mức, khuếch đại, lạc quan. Đánh giá màu sắc rực rỡ đẹp nhạy cảm chủ quan về ranh giới.

            - Lao vào mưu đồ ngông cuồng, không thực tế. Tiêu tiền liều lĩnh. Công kích, đam mê, si tình, đùa đến không thích hợp.

            - Có thể cau có ngờ vực, thời gian ít nhất 1 tuần.

            - Gián đoạn công việc xã hội, gia đình.

Hưng cảm nặng có các triệu chứng loạn thần:

            - Khí sắc tăng quá cao. Hoạt động thể lực mạnh, kéo dài dẫn đến kích động xâm phạm hoặc hung bạo.
            - Tự đánh giá quá mức dẫn đến ý tưởng tự cao dẫn đến hoang tưởng tự cao hay tôn giáo vè nguồn gốc hay vai trò nổi bật. Đôi khi có hoang tưởng được bệnh nhân.

            - Tư duy phi tán, nói nhanh có thể làm cho người khác không hiểu được bệnh nhân.

            - Sao nhãng ăn uống, vệ sinh cá nhân dẫn đến mất nước.

            - Có thể có hoang tưởng hoặc ảo giác có hoặc không phù hợp với khí sắc.

3. Phân loại và chẩn đoán:

Tuỳ theo giai đoạn bệnh hiện tại mà người ta phân thành:

            - Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ (Bipitar affective Disorder, curent Episode Hypomanic): Để chẩn đoán xác định: phải có đầy đủ các tiêu chuẩn cho hưng cảm nhẹ. Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc khác (hưng cảm nhẹ, hưng cảm, trầm cảm hoặc hỗn hợp) trước đây.

            - Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần: (Bipitar affective Disorder, curent Episode Manic Without Psychotic Symptoms): Phải có đầy đủ tiêu chuẩn của hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần. Ít nhất có giai đoạn rối loạn cảm xúc khác (hưng cảm nhẹ, hưng cảm, trầm cảm hoặc hỗn hợp) trong quá khứ.

            - Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn hưng cảm có các triệu chứng loạn thần (Bipitar affective Disorder, curent Episode Manic With Psychotic Symptoms): Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn của hưng cảm có các triệu chứng loạn thần. Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc khác (hưng cảm nhẹ, hưng cảm, trầm cảm hoặc hỗn hợp) trong quá khứ.
            - Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa (Bipitar affective Disorder, curent Episode Mild or Moderate Depression): Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa. Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ, hưng cảm hoặc hỗn hợp trong thời gian quá khứ.

            - Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng không có các triệu chứng loạn thần: (Bipitar affective Disorder, curent Episode Severe Depresion Without Psychotic Symptoms: Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn của một giai đoạn trầm cảm nặng không có các triệu chứng loạn thần. Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ, hưng cảm, hoặc hỗn hợp trong thời gian trước đây.

            - Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng có các triệu chứng loạn thần (Bipitar affective Disorder, curent Episode Severe Depresion With Psychotic Symptoms): Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm nặng có các triệu chứng loạn thần.  Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ, hưng cảm, hoặc hỗn hợp trong quá khứ.

            - Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn hỗn hợp (Bipitar affective Disorder, curent Episode Mixed): Bệnh nhân có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm, hưng cảm nhẹ hoặc hỗn hợp trong quá khứ và hiện tại biểu lộ hoặc pha trộn hoặc thay đổi nhanh chóng các triệu chứng hưng cảm, hưng cảm nhẹ và trầm cảm. Mặc dù hình thái điển hình nhất của rối loạn cảm xúc lưỡng cực bao gồm những giai đoạn trầm cảm và hưng cảm thay thế nhau và cách nhau bằng những thời kỳ khí sắc bình thường, các giai đoạn này cũng thường thấy khí sắc trầm kèm theo hoạt động thái quá và nói nhiều vào những ngày hay tuần cuối, hoặc khí sắc hưng cảm và ý tưởng tự cao, kèm theo kích động, mất năng lượng và giảm dục năng. Triều chứng trầm cảm và hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng từ ngày này sang ngày khác và từ giờ này sang giờ khác.

Chỉ có thể làm chẩn đoán rối loạn cảm xúc lưỡng cực hỗn hợp nếu cả hai nhóm triệu chứng đều nổi bật trong phần lớn giai đoạn hiện tại của bệnh và nếu giai đoạn này kéo dài ít nhất 2 tuần.
4. Điều trị:

Nguyên tắc chung: Điều trị triệu chứng, nhằm mục đích điều trị các giai đoạn (hưng hoặc trầm). Nếu các giai đoạn nặng phải nhập viện.

- Trầm cảm: nhập viện để phòng ngừa nguy cơ tự sát cao.

- Hưng cảm: nhập viện để đối phó với các hậu quả do kích động gây ra.

Điều trị giai đoạn trầm cảm:

Hoá dược:

* Lựa chọn thuốc:

- Nếu lo âu, kích thích chiếm ưu thế thì nên dùng thuốc chống trầm cảm gây êm dịu như Amitriptyline liều từ 50-150 mg/ngày.

- Nếu tình trạng ức chế chiếm ưu thế thì dùng chống trầm cảm hoạt hoá Survector 100-250 mg/ngày hoặc chống trầm cảm trung gian Anafanil 50-150 mg/ngày.

- Nếu lo âu chiếm ưu thế dùng thuốc chống trầm cảm mới không 3 vòng, không IMAO như Prozac 20-60 mg/ngày hoặc Stablon 12,5-37,5 mg/ngày.

* Thời gian điều trị: điều trị bằng thuốc chống trầm cảm thường phải được điều trị trong thời gian dài 4-6 tháng đối với trầm cảm mức độ trung bình, 6 tháng đến 1 năm đối với hội chứng trầm cảm nặng. Việc chấm dứt điều trị cần được tiến hành dần dần trong 1 đến 2 tháng.
Điều trị giai đoạn hưng cảm:

Thuốc an thần kinh: các thuốc an thần kinh được chỉ định để điều trị cơn hưng cảm.
- Chống loạn thần và làm yên dịu:

            + Aminazine 50-300 mg/ngày

            + Levomepromazin 50-300 mg/ngày

            + Tercian 50-300 mg/ngày

            + Thioridazine 50-300 mg/ngày

- Chống loạn thần mạnh, có tác dụng tối đa đối với các loại hoang tưởng, ảo giác:

            + Haloperidol 5-20 mg/ngày

Thuốc an thần kinh luôn luôn phải được điều chỉnh tuỳ theo sự dung nạp và hiệu quả
Thuốc điều chỉnh khí sắc:

- Muối Lithium: Muối Lithium có hiệu quả điều trị nhưng chỉ tác dụng sau khoảng 8 ngày sử dụng, vì vậy phải được kết hợp với một thuốc an thần kinh lúc khởi đầu. Sự kết hợp này cần phải có sự theo dõi lâm sàng và cận lâm sàng chặt chẽ, đặc biệt phải theo dõi nồng độ tập trung của Lithium trong máu, trong khoảng cho phép từ 0,5-1,2 mEq/lít.

- Carbamazepin (Tegretol): Hiệu quả điều trị của Carbamazepin xảy ra nhanh hơn so với Lithium và trong khoảng 3 ngày, được ưu tiên sử dụng trong trường hợp bệnh hưng trầm cảm có chu kỳ ngắn kết hợp với một thuốc an thần kinh lúc khởi đầu điều trị. Cần chú ý theo dõi lâm sàng chặt chẽ để đề phòng dị ứng. Liều dùng: 200-800 mg/ngày.

- Valpromide (Depamide), thuốc có tác dụng:

            + Làm ổn định cảm xúc.

            + Yên dịu và tăng hiệu lực yên dịu của các thuốc hướng thần khác.

Được chỉ định:

            + Depamid + An thần kinh ở giai đoạn cấp tính giảm nhanh tình trạng loạn thần và hưng cảm tâm lý vận động hơn là dùng an thần kinh đơn thuần.

            + Dự phòng tái phát bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực giảm số cơn và thời gian kéo dài cơn.
            + Giảm số lần tới nhập viện từ 60-80%.

            + Giảm cường độ cơn (nếu cơn xuất hiện).

Liều lượng:

            + Liều cao: 900-1200 mg

            +Trung bình: 600-900 mg

            + Liều thấp duy trì: 300-600 mg

            Sử dụng liều lượng thuốc tuỳ thuộc vào khả năng dung nạp của từng cá thể điều trị "đa trị liệu" thì liều cần ít hơn khi sử dụng "đơn trị liệu". Thuốc chia làm 2 lần trong ngày 8 giờ sáng và 8 giờ tối.

5. Phòng bệnh:

            - Rối loạn cảm xúc lưỡng cực thường hay tái phát người bệnh có thể có nhiều giai đoạn phát bệnh trong suốt cuộc đời của mình và giữa những giai đoạn này bệnh nhân hoàn toàn khoẻ mạnh, do vậy việc điều trị dự phòng là hết sức cần thiết.

            - Chỉ định dự phòng: người bệnh bị mỗi năm 1 cơn, hoặc 2 năm 3 cơn. Thuốc dự phòng: Các muối Lithium, Carbamazepin, Depamide với liều lượng duy trì.

            - Cần chú ý đến chế độ sinh hoạt, công tác và nghỉ ngơi của người bệnh, đặc biệt tránh tình trạng quá căng thẳng về cảm xúc. Cần chú ý theo dõi người bệnh vào mùa thu, mùa hè là những mùa hay phát bệnh. Điều trị sớm ngay từ khi có các triệu chứng đầu tiên như: Rối loạn giấc ngủ, suy nhược, giảm hoạt động hay tăng hoạt động rõ rệt so với các trạng thái thông thường.