1 .Đại cương

Xương chũm là một khối xương nằm lồi gần ngay sau vành tai. Cấu tạo của xương chũm tuy cứng nhưng bên trong lại xốp, có nhiều hốc nhỏ. Xương chũm tiếp giáp với nhiều bộ phận quan trọng như màng não, não, các mạch máu, thần kinh quan trọng…

Ngoài ra, vì xương chũm có cấu tạo xốp do đó khi xương chũm bị viêm, bệnh lây lan rất nhanh, gây nhiều biến chứng nguy hiểm như Màng não viêm, Áp xe não, Liệt mặt… và nguy hiểm nhất là biến chứng Nhiễm trùng máu rất dễ gây tử vong.

2. Nguyên nhân

-     Do tai giữa viêm cấp, mủ nhiều không khỏi hoặc không thoát đi được, tràn vào xương chũm.

-     Nhiễm khuẩn, nhất là các loại liên cầu, phế cầu, tụ cầu sau khi bị các chứng ban sởi, cúm.

-     Do cấu trúc của xương chũm

-        Do cơ địa: Nơi người có bệnh mạn tính như tiểu đường, thận viêm mạn, thiếu máu, giảm sức đề kháng…

3. Biến chứng

-     Liệt mặt.

-     Áp xe ngoài màng cứng.

-     Áp xe đại não và tiểu não.

-     Viêm màng não.

-     Biến chứng viêm tĩnh mạch bên, nhiễm khuẩn huyết.

-        Biến chứng viêm mê nhĩ.

4.  Triệu chứng:

 4.1.  Viêm xương chũm cấp tính

4.1.1. Nguyên nhân.

Do viêm tai giữa không được điều trị tốt.

Biến chứng của viêm tai giữa cấp tính (các trường hợp viêm tai giữa hoại tử và ở trẻ em sức đề kháng yếu).

Biến chứng của viêm tai giữa mạn tính.

Viêm tai giữa sau các bệnh: cúm, sởi, bạch hầu và ho gà.

Điều kiện thuận lợi:

-       Những cơ thể có sức đề kháng yếu.

-       Độc tố vi khuẩn.

-       Xương chũm là loại thông bào.

4.1.2. Triệu chứng.

Triệu chứng toàn thân:

-       Sốt cao kéo dài, thể trạng suy nhược, mệt mỏi, nhiễm trùng, nhiễm độc sốt cao 390C- 400c (viêm tai giữa chảy mủ qua 2 tuần không thấy khỏi các triệu chứng thậm chí còn có diễn biến nghiêm trọng hơn như sốt cao hơn, đau tai hơn, mủ chảy đặc hơn và có mùi thối).

-       Ở trẻ em có thể thấy co giật, thóp phồng giống như viêm màng não.

Triệu chứng cơ năng:

-          Đau tai: là triệu chứng chính, đau tăng dữ dội, đau sâu trong tai lan ra vùng chũm và vùng thái dương.

-       Nghe kém kiểu dẫn truyền.

-       Ù tai.

-       Chóng mặt nhẹ.

Triệu chứng thực thể:

-       Mặt chũm thường nề đỏ, ấn vào đau.

-       Mủ tai: đặc có mùi thối khẳn, có mầu xanh hoặc vàng đôi khi có tia máu.

-       Màng nhĩ: (quan sát được sau khi lau sạch  mủ tai) nề đỏ, lỗ thủng thường sát thành ống tai xương, bờ nham nhở, đáy lỗ thủng phù nề xung huyết, góc sau trên đôi khi bị xoá.

4.1.3. Tiến triển và biến chứng:Viêm xương chũm cấp tính khó có thể tự khỏi, nếu không được điều trị sẽ đưa tới viêm xương chũm mạn tính, viêm xương chũm xuất ngoại và có thể đưa tới các biến chứng hiểm nghèo.

Các biến chứng thường gặp là:

-       Viêm xương hay cốt tuỷ viêm xương thái dương, xương đá hay xương chẩm với hội chứng nhiễm khuẩn nặng.

-       Liệt mặt ngoại biên do tổn thương dây thần kinh số VII.

-       Viêm mê nhĩ.

-       Các biến chứng nội sọ như: viêm màng não, áp xe não hay viêm tĩnh mạch bên.

4.1.4. Điều trị.

-       Mổ cấp cứu là phương pháp duy nhất.

-       Kháng sinh liều cao toàn thân bằng đường tiêm truyền chỉ làm giảm triệu chứng.

4.1.5. Phòng bệnh.

-       Điều trị tích cực các nguyên nhân gây viêm tai giữa: điều trị viêm mũi họng, nạo V.A.

-       Điều trị tích cực viêm tai giữa mạn tính.

-       Theo dõi và phát hiện sớm các biến chứng.

4.2. Viêm xương chũm mạn tính.

Chảy tai lâu ngày, nghe kém là hai triệu chứng chủ yếu. Màng nhĩ bị thủng, hệ xương con bị hư hỏng, tế bào chũm bị viêm. Chụp phim X-quang xương chũm có thể thấy các hình ảnh bệnh lý.

Viêm tai xương chũm mạn tính hồi viêm là đợt viêm cấp tính với các biểu hiện giống như viêm xương chũm cấp tính, dễ gây ra các biến chứng nguy hiểm.

Điều trị: phẫu thuật tiệt căn hoặc bảo tồn có hoặc không tái tạo hệ truyền âm kiểu tạo hình tai giữa

4.2.1. Viêm xương chũm mạn tính:Là bệnh tương đối phổ biến gặp ở mọi lứa tuổi. Bệnh làm giảm sức nghe, sức lao động và có thể đưa đén các biến chứng hiểm nghèo.

4.2.1.1. Nguyên nhân.

-       Viêm tai giữa mủ mạn tính kéo dài.

-       Do viêm xương chũm cấp tính không được phẫu thuật.

Điều kiện thuận lợi:

-       Những cơ thể có sức đề kháng yếu.

-       Viêm tai giữa sau chấn thương.

-       Xương chũm là loại ít thông bào.

4.2.1.2. Triệu chứng.

Triệu chứng cơ năng: giống như viêm tai giữa mủ mạn tính nhưng ở mức độ nặng hơn.

-       Đau tai, đau âm ỉ đau lan ra 1/2 đầu bên bệnh.

-       Nghe kém tăng lên rõ rệt: nghe kém kiểu dẫn truyền.

-       Ù tai.

-       Chóng mặt

Triệu chứng thực thể:

-       Chảy mủ tai thường xuyên là triệu chứng chính, mủ đặc, mùi thối khẳn.

-       Soi tai: lỗ thủng thường rộng, bờ nham nhở, sát khung xương, có thể thấy polype ở trong hòm nhĩ hoặc thấy cholesteatome. Có nhiều mủ thối.

4.2.1.3.Tiến triển và biến chứng:viêm xương chũm mạn tính khó tự khỏi, thường đưa tới các đợt hồi viêm, xuất ngoại. Ngày nay do sự lạm dụng kháng sinh, các biến chứng như liệt mặt ngoại biên do tổn thương dây thần kinh số VII, viêm mê nhĩ, các biến chứng nội sọ như viêm màng não, áp xe não hay viêm tĩnh mạch bên...

4.2.1.4. Điều trị: khuynh hướng hiện nay là làm phẫu thuật sớm để bảo tồn sức nghe và tránh các biến chứng.

4.2.2. Viêm  xương chũm mạn tính hồi viêm: Một đợt viêm cấp tính trên một bệnh nhân có viêm tai xương chũm mạn tính và đe dọa có biến chứng.

Triệu chứng toàn thân:

-       Sốt cao, kéo dài.

-       Thể trạng mệt mỏi, nhiễm khuẩn.

Triệu chứng cơ năng:

-       Đau tai ngày càng tăng dữ dội, đau lan ra 1/2 đầu đau thành cơn dùng thuốc giảm đau không tác dụng.

-       Nghe kém tăng hơn trước.

-       Ù tai.

-       Chóng mặt.

Triệu chứng thực thể:

-       Chảy mủ tai tăng nhiều hơn trước, mủ đặc, mùi thối khẳn.

-       Vùng xương chũm sau tai nề tấy đỏ, ấn đau.

-       Soi màng tai, lỗ thủng rộng, bờ sát xương, đáy hòm nhĩ đỏ xung huyết, có thể nhìn thấy thành sau ống tai bị sập.

5.Điều trị.

-       Phẫu thuật tiệt căn xương chũm, giải quyết biến chứng.

-       Kháng sinh liều cao.

-       Nâng đỡ cơ thể.

6. Phòng bệnh:

Phương pháp phòng bệnh tốt nhất là không để cho tai bị viêm. Khi tai giữa bị viêm cấp tính rồi, thầy thuốc phải chích rạch màng nhĩ sớm, bảo đảm dẫn lưu tốt, dùng kháng sinh đúng quy cách.