Việc xếp giai đoạn ung thư rất quan trọng vì nó giúp bác sĩ lập kế hoạch điều trị cụ thể và cho phép dự đoán kết quả trị liệu. Hiện nay, việc xếp giai đoạn thường dựa trên hệ thống TNM. Trong đó:

T (Tumor): Kích thước khối u, kèm theo số từ 0-4. Số càng lớn có nghĩa khối u đã phát triển tại chỗ càng nhiều. Ví dụ: Khối u vú T4 có nghĩa là u đã xâm lấn ra tới da ngực.

N (Node): Nói đến sự liên quan đến hạch bạch huyết gần vị trí khối u. Cụ thể ung thư đã lan đến hạch vùng chưa và bao nhiêu hạch liên quan. Thường kèm số từ 0-3, số càng cao thì càng có nhiều hạch liên quan. Ví dụ: Trong ung thư bao tử, N3 có nghĩa là hơn 15 hạch đã có tế bào ung thư.

M (Metastase): Cho biết mức độ ung thư di căn đến cơ quan khác. Mỗi ung thư có thể có M0 - chưa có di căn xa hoặc M1 - đã cho di căn xa.

Như vậy, một khối ung thư tại bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể sẽ được thể hiện bởi 3 chữ cái có kèm số. Ví dụ, nếu hồ sơ ghi là: K.Vú trái T2N1M0, có nghĩa là ung thư vú bên trái, kích thước khối u từ 2-5 cm, có hạch nách sờ được và chưa có di căn xa. Bác sĩ sẽ dựa trên sự kết hợp của 3 chỉ số này để xếp giai đoạn ung thư. Phần lớn các loại ung thư có 4 giai đoạn từ I-IV, vài loại đặc biệt có thể có thêm giai đoạn 0.

Giai đoạn 0: Còn gọi là ung thư tại chỗ - còn rất sớm, chưa xâm lấn đến các cấu trúc lân cận. Khả năng trị hết bệnh ở giai đoạn này rất cao.

Giai đoạn I: Còn gọi là giai đoạn sớm - kích thước khối u thường dưới 2 cm. Chưa xâm lấn các cấu trúc kế cận, không có hạch vùng và cũng không có di căn đến các cơ quan khác.

Giai đoạn II-III: Kích thước bướu lớn hơn, đã ăn lan đến các cấu trúc kế cận khối u và có hạch vùng. Tuy nhiên chưa cho di căn xa.

Giai đoạn IV: Còn gọi là ung thư giai đoạn tiến xa - có nghĩa là tế bào ung thư đã di căn đến các cơ quan khác (M1 theo TNM). Ví dụ khối ung thư đại tràng mà có di căn đến gan hoặc phổi là ung thư đại tràng giai đoạn IV.

Ngoài ra, các bác sĩ còn dựa trên khái niệm độ biệt hoá của tế bào ung thư khi xem trên kính hiển vi để tiên đoán kết quả điều trị.

Tế bào ung thư có độ biệt hoá cao khi nó gần giống tế bào bình thường của mô đó, còn gọi là biệt hoá tốt hay có grade mô học thấp. Khi tế bào bướu dị dạng rất nhiều so với tế bào bình thường thì gọi là biệt hoá kém hay có grade mô học cao. Nói chung, độ biệt hoá càng cao thì tiên lượng bệnh càng tốt.

Các trường hợp ngoại lệ

U não: Hiếm khi lan tràn ra khỏi hệ thống thần kinh, nên chỉ có T (kích thước) trong hệ thống TNM được áp dụng.

Ung thư ở trẻ em thường có hệ thống phân loại riêng tuỳ thuộc vị trí ung thư.

Ung thư máu và ung thư hạch bạch huyết cũng không áp dụng hệ thống TNM do thường không tạo thành khối bướu đặc và có hệ thống xếp giai đoạn riêng./.