1. Định nghĩa và phân loại

a. Định nghĩa

Ung thư bóng Vater là ung thư của một bộ phận tiêu hóa. Đây là một bệnh lý hiếm gặp, nếu không được phát hiện sớm và phẫu thuật kịp thời rất dễ dẫn đến tử vong.

b. Phân loại

-        U đầu tuỵ

-        U đoạn cuối ống mật chủ

-        U nhú Vater

-        U tá tràng

-        Trong đó, u đầu tuỵ chiếm tỷ lệ cao nhất, thấp nhất là u tá tràng (ví tá tràng là một cấu trúc của ruột non, nên tỷ lệ ung thư là khá thấp – có thể là do chu kỳ thay đổi lớp thượng bì của ruột non lag khá nhanh)

2. Nguyên nhân

VPC (Vater ampullary cancer) chưa rõ nguyên nhân, có thể là do yếu tố gen (di truyền) hoặc do yếu tố ngoại cảnh, như sử dụng rượu, chế độ ăn, tình trạng viêm nhiễm mạn tính, và những yếu tố khác ảnh hưởng đến việc hình thành khối u.
3. Bệnh học

-        VPC thường nhỏ khoảng 1 – 2 cm đường kính. Khối u thường mềm, bề mặt trơn nhẵn, sung huyết, hoại tử, thường tắc nghẽn nhưng hiếm khi tắc hoàn toàn.

-        Tuy gồm 4 loại nhưng ví tính chất khá giống nhau, như bệnh cảnh lâm sàng,phương pháp chuẩn đoán, phương pháp điều trị, nên thường được gọi chung là U quanh bóng Vater.

4. Triệu chứng chính

Chủ yếu là vàng da, đau bụng, sốt, sụt cân, gan to, túi mật to.

-        1. Vàng da: chiếm ¾ số BN đây là dấu hiệu sớm nhất của bệnh. Vàng da là do khối u chèn ép váo đường dẫn mật, gây chít hẹp rồi dẫn đến tắc mật, vàng da có thể tăng dần, hoặc tang giảm bấp bệnh, do việc khối u hoại tử tạo khe hẹp cho việc dẫn lưu mật xuống ống tiêu hoá.

-        2. Đau bụng: chỉ khoảng 70% BN có đau bụng, đau bụng là do khối u chèn ép vào ống mật chủ gây dãn, hay vào các cơ quan lân cận. BN thường chỉ đau mơ hồ, chứ không dữ dội như trong cơn đau quặn mật, đau thường lan ra sau lưng, tăng lên sau ăn, mỗi khi BN gập người chỉ có thể cảm thấy đỡ đau hơn. Nếu đau tăng dần thì có thể khối u chèn ép vào đám rối thần kinh tạng hoặc vào khoang sau phúc mạc.
Nếu BN không đau bụng, ta có thể nghĩ ngay đến VPC vì thường tắc mật do sỏi hay giun chui có cơn đau quặn mật rất điển hình.

-        3. Sốt: BN thường sốt từng con, sốt là do tình trạng hoại tử khối u, nhiễm trùng đường mật hoặc túi mật. Thường BN sốt cao, tăng bạch cầu, thậm chí shock. Lâm sàng cso thể nhầm lẫn với Nhiễm trùng đường mật, Sỏi túi mật.

-        4. Sụt cân, mệt mỏi, chán ăn: đây là những triệu chứng của tình trạng cận ung.

-        5. Buồn nôn: chiếm 37%

-        6. Gan to, túi mật to: do tắc nghẽn đường mật, mật ứ lại trong gan, túi mật làm gan và túi mật căng to. Thường gan to, cứng, trơn láng. Túi mật có thể sờ chạm.

-        7. Thiếu mật, dịch tuỵ: gây rối loạn tiêu hoá, BN kém hấp thu cũng như tiêu hoá thức ăn, BN có các triệu chứng như mất vị giác, chướng bụng, mệt mỏi, tiêu chảy, phân nhầy mỡ (phân sống), sụt cân.

-        8. Thiếu máu: do việc hoại tử khối u gây chảy máu rỉ rả, thường có máu trong phân, gọi là tình trạng thiếu máu thứ phát.

-        9. Ngứa: việc muối mật qua quá trình dài đi vào máu, sẽ tích trữ dưới mô dưới da, có thể kích thích thần kinh gây ngứa.

-        10. Nước tiểu vàng, phân bạc màu: là do tình trạng ứ mật, mật không xuống được ống tiêu hoá.

5. Chẩn đoán

Việc chẩn đoán chính xác trên lâm sàng còn nhiều khó khăn, thậm chí khi sử dụng CT-Scans hay ERCP cũng rất khó phân biệt giữa 4 loại u. Vì thế việc sinh thiết khối u để làm giải phẫu bệnh là cần thiết để xác định TB gây u.

 6. Điều trị

Hiện tại điều trị vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Phương pháp hay sử dụn hiện tại là cắt bỏ toàn bộ khối tá tuỵ (phương pháp Wipple), tuy nhiên biến chứng của phương pháp này cũng còn khá cao (tử vong, rò tuỵ…)