I. Nguyên nhân bệnh

Không ai biết các nguyên nhân chính xác của ung thư đại trực tràng. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng những người có các yếu tố nguy cơ nhất định có nhiều khả năng hơn những người khác để phát triển bệnh ung thư đại trực tràng.

Các polyp trực tràng

Các polyp mọc trên thành bên trong của đại tràng hoặc trực tràng và thường gặp ở người trên 50 tuổi. Hầu hết các polip là lành tính (không phải ung thư), nhưng một số polip (u tuyến) có thể trở thành ung thư.

Viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn’s

Một người đã bị một bệnh lý gây ra viêm đại tràng (như viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn) trong nhiều năm sẽ có nguy cơ ung thư tăng cao.

Tiền sử cá nhân từng bị ung thư:

Một người đã bị ung thư đại trực tràng có thể phát triển ung thư đại trực tràng lần thứ hai. Ngoài ra, phụ nữ có tiền sử ung thư buồng trứng, tử cung (nội mạc tử cung), hoặc ung thư vú có nguy cơ cao hơn một chút bị phát triển ung thư đại trực tràng.

Tiền sử gia đình có người mắc bệnh ung thư trực tràng:

Nếu bạn có một tiền sử gia đình dương tính của bệnh ung thư đại trực tràng, bạn có nhiều khả năng hơn những người khác bị phát triển căn bệnh này, đặc biệt là nếu người thân của bạn đã bị ung thư khi còn trẻ.

Các yếu tố lối sống:

Những người hút thuốc lá, hoặc dùng một chế độ ăn nhiều thịt đỏ hoặc bị chế biến và ít chất xơ có nguy cơ tăng cao của ung thư đại trực tràng.

Trên 50 tuổi:

Ung thư đại trực tràng có nhiều khả năng xảy ra đối với những người lớn tuổi. Hơn 90 phần trăm số người mắc bệnh này được chẩn đoán sau tuổi 50 và lớn hơn.


II. Giải phẫu bệnh.

1. Vị trí:

            Về mặt ngoại khoa ung thư trực tràng được chia ra 3 vị trí, có liên quan đến cách thức mổ và lấy hạch:

a. Ung thư trên bóng:

            Khối u ở trên túi cùng Douglas (phần trực tràng có phúc mạc che phủ) cách hậu môn 12 – 15 cm chỉ phân biệt được băng nội soi.

b. Ung thư ở bóng:

            Thường gặp nhất chiếm 2/3 tổng số, ung thư cách rìa hậu môn 4 – 11 cm.

c. Ung thư hậu môn:

            Cách rìa hậu môn 3 -4 cm có đặc điểm riêng về tổ chức học (ung thư thượng bì thể lát). Cảm thụ tốt với tia.

2. Đại thể:

            Ung thư trên bóng: Tổ chức u cứng do phản ứng chất đệm mạnh, gây chít hẹp kiểu vong nhẫn.

           Ung thư ở bóng: Có hai thể sùi ra ngoài như súp lơ và thể loét có thâm nhiễm.

3. Vi thể:

Phần lớn là ung thư tuyến. Có hai loại:

            - Ung thư thượng bì điển hình.

            - Ung thư thượng bì không điển hình tiên lượng xấu hơn.

4. Di căn ung thư

            - Di căn theo bạch huyết.

            - Di căn theo máu.

            - Di căn đến các tổ chức kế cận.

III. Triệu chứng

1. Cơ năng

            - Đi ngoài ra máu là triệu chứng hay gặp nhất. Thường là máu lẫn phân và thường ra trước phân.

            - Đi ngoài phân táo xen kẽ với đi lỏng từng đợt.

            - Thường có kèm các triệu chứng của viêm trực tràng như đau quặn, mót rặn, cảm giác tức nặng hậu môn.

            - Đôi khi bắt đầu bằng triệu chứng tắc ruột, nhất là đối với ung thư ở trên bóng.

2. Thực thể:

a. Thăm trực tràng:

            Sờ thấy u cứng, bờ nham nhở, lòng trực tràng bị chít hẹp, dễ chảy máu.

b. Soi trực tràng:

            - Phát hiện các khối u ở trên cao, tay không sờ tới được.

            - Đánh giá đúng khoảng cách khối u tới cơ thắt hậu môn để chọn một phương pháp mổ thích hợp.

            - Lấy tổ chức làm sinh thiết cho một chẩn đoán chắc chắn.

3. X Quang

            Chụp đại tràng có cản quang thấy hình khối khuyết hay chít hẹp, bờ nham nhở, ngoài ra cho biết vị trí khối u, tình trạng đại tràng phía trên u.

IV. Chẩn đoán

1. Chẩn đoán xác định:

            Dựa vào thăm trực tràng, soi trực tràng và nhất là kết quả sinh thiết.

2. Phân biệt:

            Cần phân biệt với các bệnh như trĩ, khối u lành tính, và các loại viêm trực tràng khác (lao, giang mai …).

3. Xác định khả năng phẫu thuật:

            - Thăm trực tràng xem khối u di động hay cố định, nếu cố định thì dính vào đâu (Xương cùng phía sau, phía trước bàng quang, tuyến tiền liệt …).

V. Biến chứng và tiến triển

            - Nhiễm trùng tại chỗ.

            - Di căn vào đám rối cùng gây đau dữ dội.

            - Tắc ruột do u làm chít hẹp lòng trực tràng.

            - Thâm nhiễm vào bàng quang, niệu quản gây rối loạn tiểu tiện.

VI. Điều trị

            Điều trị ung thư trực tràng có thể bằng hóa chất, tia xạ và phẫu thuật. Nhưng điều trị bằng phẫu thuật là chủ yếu. Tùy theo bệnh nhân (tình trạng, giai đoạn bệnh) mà điều trị triệt để hay tạm thời.

1. Điều trị triệt để:

a. Nguyên tắc cắt bỏ:

            Giới hạn cắt: Phía trên cách bờ trên khối u 15 cm, phía dưới cách bờ dưới khối u 5 – 7 cm.

            - Lấy hết hệ thống bạch huyết treo đường tĩnh mạch trĩ trên đến tận gốc động mạch mach treo tràng dưới ở động mạch chủ.

            - Lấy bỏ rộng rãi các tổ chức xung quanh trực tràng. Phụ nữ phía trước lấy đến thành sau âm đạo, nam giới đến bàng quang, nếu cần cũng có thể lấy bỏ.

b. Nguyên tắc chỉ định phương pháp điều trị

            - Khối u bờ dưới cách cơ thắt hậu môn lớn hơn 10 cm cắt bỏ trực tràng + khối u, mối đại tràng với trực tràng còn lại.

            - Bờ dưới khối u cách cơ thắt hậu môn nhỏ hơn 10cm có hai thái độ.

                        + Hoặc cắt bỏ trực tràng và cơ thắt. Làm hậu môn nhân tạo vĩnh viễn ở đại tràng Sigma (PP Quenu - Miles).

                        + Hoặc chọn một trong hai PP sau tùy vị trí khối u.

            Bờ dưới khối u cách cơ thắt 7 – 10cm cắt bỏ trực tràng + khối u, nối đại tràng Sigma với cơ vòng hậu môn dã bóc hết niêm mạc (PP Babcock – Bacon).

            Bờ dưới khối u cách cơ thắt hậu môn nhỏ hơn 7 cm thì áp dụng phẫu thuật Quenu – Miles.

2. Điều trị tạm thời:

a. Chỉ định:

            Ung thư đến muộn, bệnh nhân qua yếu, khối u đã di căn tới các cơ quan lân cận hoặc di căn xa.

b. Phương pháp

            Làm hậu môn nhân tạo trên khối u.

            Điều trị tia xạ chủ yếu với ung thư biểu mô.