I. Nguyên nhân :

Có nhiều nguyên nhân gây viêm quanh khớp vai:

            - Chấn thương, vi chấn thương do nghề nghiệp, viêm gân, kéo giãn khớp vai quá mức, vận động khớp vai nhanh mạnh đột ngột.

            - Nguyên nhân ở xa khớp vai gồm: bệnh cột sống cổ như thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm, bệnh ở phổi, màng phổi, trung thất.

Khớp vai bao gồm 5 khớp:

            - Khớp ổ chảo - cánh tay

            - Khớp mõm cùng - cánh tay

            - Khớp mõm cùng - xương đòn

            - Khớp ức - đòn

            - Khớp bả vai - lồng ngực

- Khớp bả vai - lồng ngực

Các cơ ở khớp vai bao gồm:

Mặt trước: cơ delta, đầu dài cơ 2 đầu cánh tay, cơ ngực lớn

Mặt sau: nhóm cơ chóp xoay bao gồm

        - Cơ trên gai

        - Cơ dưới gai

        - Cơ tròn nhỏ

        - Cơ dưới gai

II. Có 4 thể viêm quanh khớp vai có biểu hiện đặc trưng bao gồm:

1. Viêm quanh khớp vai đơn thuần:

        - Đau ở mỏm cùng vai, mặt trước và mặt ngoài vai hoặc phía sau vai. Đau tăng khi vận động, nhất là động tác dang vai, giơ tay lên trên và động tác xoay khớp vai

        - Các động tác vận động khớp vai không bị hạn chế, hoặc chỉ hạn chế ít do đau.

        - Chụp X-quang khớp vai không có bất thường.

        -Bệnh tiến triển nhẹ, đau giảm dần rồi khỏi trong vài tuần, nhưng hay tái phát.

2. Viêm quanh khớp vai thể đông cứng:

        - Đau và hạn chế vận động khớp vai do co cứng bao khớp, kéo dài từ vài tháng đến hàng năm với biểu hiện: đau giảm dần, nhưng hạn chế vận động lại tăng, các động tác đều hạn chế, nếu bệnh lâu ngày có thể thấy teo cơ nhẹ do giảm vận động

3. Viêm quanh khớp vai kèm vôi hóa gân:

         - Bệnh nhân có các cơn đau dữ dội nhất là khi vận động vai. Chính vì quá đau nên khiến bệnh nhân sợ và bất động khớp vai.

         - Trên phim x quang thấy hình ảnh vôi hóa các đầu gân cơ

4. Viêm quanh khớp vai thể giả liệt:

         - Các gân cơ vùng vai bị đứt, làm cho các cử động không thể thực hiện được giống như khi bị liệt. Bệnh nhân không thể chải tóc, đưa tay ra sau gáy, phải dùng tay bên lành để nâng tay bị liệt lên. .

          - Trên hình ảnh MRI sẽ xác định được các gân cơ bị tổn thương.

Hậu quả:

       - Viêm quanh khớp vai tuy không ảnh hưởng đến sinh mạng của người bệnh nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến lao động và sinh hoạt của bệnh nhân. Nếu không được điều trị đúng đắn và đầy đủ ngay từ đầu có thể để lại các di chứng như teo cơ, giảm trương lực cơ, hạn chế các cử động của vai và bàn tay, đứt gân cơ từ đó mất dần chức năng của tay bên đau.

III. Điều trị

         Điều trị viêm quanh khớp vai tuỳ thuộc vào từng thể bệnh khác nhau;  thường phối hợp nhiều biện pháp như phục hồi chức năng khớp bằng các bài tập vận động, xoa bóp, bấm huyệt, chiếu tia hồng ngoại sóng ngắn. Các thuốc hay dùng là thuốc giảm đau đơn thuần paracetamol và/hoặc thuốc giảm đau chống viêm không steroid (NSAID) như diclofenac, meloxicam...; thuốc giãn cơ (mydocalm, myonal).

         Một số trường hợp tiêm thuốc glucocorticoid khớp vai, bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai; điểm bám gân cho kết quả rất tốt nhưng lưu ý phải theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa và trong điều kiện vô khuẩn; tránh biến chứng nhiễm khuẩn và không được lạm dụng (quá liều, quá nhiều lần) gây nhiều biến chứng khác như teo cơ, loãng xương... Chụp khớp cản quang và nong khớp là các kỹ thuật được chỉ định cho khớp vai thể đông cứng; đây vừa là kỹ thuật để chẩn đoán xác định bệnh vừa để điều trị bệnh thông qua giải phóng bao khớp bị dính. Trong một số trường hợp, thể giả liệt do đứt gân các cơ xoay vai, ở người đòi hỏi mức độ vận động cao (vận động viên) có thể phẫu thuật để phụ hồi gân. Gần đây kỹ thuật phẫu thuật nội soi khớp vai để tạo hình mỏm cùng vai, mở rộng bao khớp, nối gân... đã được tiến hành ở một số bệnh viện trong nước và cho kết quả tốt. Trong trường hợp của chị cần đi khám để xác định nguyên nhân bệnh từ đó mới có chỉ định điều trị phù hợp.