1. Khái niệm

            Tủy sống thiếu máu nuôi dưỡng sẽ dẫn đến hoại tử không hồi phục. Nếu thiếu máu ở vùng tủy sống cổ sẽ gây liệt tứ chi và nếu thiếu máu khu trú ở vùng tủy sống lưng - thắt lưng, người bệnh sẽ bị liệt hai chân. Bệnh nhân trở nên tàn phế, nằm liệt giường bất động, kéo theo biến chứng đại tiểu tiện tự động và loét mục ở những điểm tỳ (ở gót chân, mông, bả vai) rất đau đớn, cực khổ, đòi hỏi một chế độ điều trị và nuôi dưỡng chăm sóc rất phức tạp kéo dài hàng năm. Bởi vậy, cần phát hiện sớm những dấu hiệu ban đầu của giai đoạn thiếu máu tủy sống tạm thời để xử trí tích cực kịp thời mới hy vọng cứu được đoạn tủy sống đang bị thiếu máu nuôi dưỡng, ngăn chặn được  xu thế phát triển tới nguy cơ nhuyễn tủy sống do thiếu máu tủy sống vĩnh viễn.

            Như chúng ta đã biết, sự phân bố động mạch nuôi dưỡng tủy sống thông qua các động mạch rễ. Ở vùng cổ, những động mạch rễ tách ra từ đoạn cổ của động mạch đốt sống. Ở vùng chuyển tiếp cổ - ngực, phần lớn chúng tách ra từ thân động mạch sườn cổ. Ở vùng ngực và thắt lưng, chúng tách ra từ động mạch chủ. Ở vùng cùng, những động mạch rễ lại đi từ các mạch của các động mạch chậu.

2. Nguyên nhân

            Thiểu năng tuần hoàn tủy sống do hệ động mạch, bệnh nguyên phát của mạch và cũng có thể do chèn ép mạch gây ra. Trong các bệnh nguyên phát của mạch, phải tính tới hàng đầu là xơ cứng động mạch, trong đó vị trí tắc mạch có thể nằm trong hoặc ngoài tủy sống. Như vậy, các nhồi máu tủy thường là hậu quả của xơ vữa động mạch chủ, các động mạch liên sườn hoặc của phình động mạch chủ. Nhuyễn tủy do tắc khi sau chụp động mạch chủ và các phẫu thuật động mạch chủ cũng là vấn đề thường gặp trong lâm sàng. Xơ cứng động mạch, những biến đổi viêm nhiễm (giang mai, viêm động mạch chủ thể hạt) của các động mạch nội tủy cũng có thể là nguyên nhân của thiểu năng tuần hoàn tủy. Sự chèn ép các động mạch rễ có thể thấy trong thoát vị đĩa đệm. Ngoài ra hẹp ống sống do gai xương, gù kết hợp lệch - vẹo cột sống và các u nội tủy có thể gây nên các triệu chứng tủy do nguyên nhân mạch máu, do cơ chế chèn ép hoặc do gấp khúc mạch máu.

3. Những biểu hiện thường gặp của thiếu máu tủy sống

Có hai loại thiếu máu tủy sống: tạm thời và vĩnh viễn.

Thiếu máu tủy sống tạm thời

            Người ta phân biệt khập khễnh cách hồi tủy sống (claudicatio intermittens spinalis) với khập khễnh cách hồi đuôi ngựa (claudicatio intermittens der caudaequine). Trường hợp khập khễnh cách hồi tủy sống chỉ xuất hiện sau tác động của áp lực trọng tải, hội chứng liệt nhẹ hai chân theo kiểu liệt cứng, mà phần lớn có một bên chân liệt rõ hơn, đặc biệt là sau thời gian nghỉ yên tĩnh thì liệt hai chân lại biến mất. Bệnh nhân cảm thấy rõ là sau khi cột sống chịu đựng trọng tải một cảm giác nặng chân thực sự, đôi khi kèm theo cảm giác tê bì hoặc đau. Trong lúc này, nếu khám xét kỹ sẽ phát hiện được ở hai chân có tình trạng co cứng, phản xạ gân xương tăng so với chi trên và thường thấy cả dấu hiệu Babinski, có khi xuất hiện đái không kìm lại được (đái dầm), cảm giác sâu ở phần lớn trường hợp còn nguyên vẹn. Thông thường trong một thời gian ngắn sẽ dẫn tới một bệnh cảnh mang tính chất thường xuyên.

            Trường hợp khập khễnh cách hồi đuôi ngựa được biểu hiện bằng những cảm giác sai, phụ thuộc theo trọng tải của cột sống như cảm giác tê bì, lạnh chân hoặc đau ở hai chân. Khám cảm giác thấy những biểu hiện tăng cảm (hyperesthesia) và đau ở những đoạn tương ứng. Hiếm thấy có rối loạn vận động, phù hợp với tổn thương ở vùng neuron vận động thứ hai, xuất hiện giảm và mất phản xạ và không bao giờ có dấu hiệu bó tháp. Ngược lại với các loại khập khễnh cách hồi khác của chân, ở đây mạch chân phần lớn còn sờ thấy

4. Điều trị

            Về nguyên tắc, điều trị đối với thiếu máu tủy sống cũng giống như cơn thiếu máu não. Đối với những rối loạn bàng quang, cần đặt ống thông bàng quang cách hồi dưới điều kiện vô khuẩn nghiêm ngặt. Nếu đặt ống thông dẫn lưu bàng quang kéo dài sẽ gây trở ngại cho sự hình thành hoạt động tự động bàng quang do thần kinh, đặc biệt trong hội chứng tủy ngang ở những đoạn tủy cao, còn trong tổn thương vùng nón đuôi ngựa thì không có tự động bàng quang. Đặc biệt cần phòng chống loét mục do nằm bất động. Cần phải thay đổi tư thế nằm của bệnh nhân, nếu có giường chuyên dụng thì càng tốt. Cần phải tiến hành cho tập vận động thụ động, nếu có thể thì một phần chủ động ngay từ ngày thứ hai. Nếu co cứng cơ mạnh thì cho thêm thuốc giãn cơ.

            Cuối cùng cần phải bảo đảm cho bệnh nhân có đủ độ ẩm hoặc thải nhiệt khi cần thiết bằng cách không cho đắp chăn. Như vậy có thể tránh được trạng thái sốt do không được tỏa nhiệt đúng mức vì rối loạn điều hòa thân nhiệt thường hay xảy ra ở những bệnh nhân liệt tủy ngang.