1. Khái niệm

            Viêm khớp vẩy nến là một bệnh lý kết hợp thương tổn vẩy nến ở da hoặc móng và tình trạng viêm khớp tại các khớp ngoại biên hoặc viêm cột sống.

2. Nguyên nhân

            Viêm khớp vảy nến có thể do một sự kết hợp giữa yếu tố di truyền và yếu tố môi trường (chấn thương thực thể, tâm lý, nhiễm khuẩn).

3. Triệu chứng

3.1  Biểu hiện ở hệ thống da, móng, lông, tóc

            - Da: tổn thương da điển hình bao gồm những mảng dạng vảy màu hồng trên mặt trước của chân, tay, hình dạng có thể thay đổi, dạng hình vòng tròn, hình nốt, hoặc thậm chí có những mảng tróc vảy. Thương tổn có thể nhỏ đường kính vài mm hoặc lan rộng thành mảng. Vị trí có thể gặp ở da đầu, có thể tìm thấy tổn thương da ở dưới vú, kẽ mông hoặc trong rốn.

            - Móng: loạn dưỡng móng xảy ra trong khoảng 80% các trường hợp . Những thay đổi trên móng hay gặp là mất màu móng, dày móng, rỗ như kim châm hoặc bong móng.

3.2  Biểu hiện ở khớp

            Viêm một vài khớp, chủ yếu khớp nhỏ, ở bàn tay,  gặp ở  khớp ngón xa, hoặc đốt bàn ngón tay. Thể này hay gặp ở nữ đôi khi dễ nhầm với  viêm khớp dạng thấp. Tuy nhiên viêm nhiều khớp hiếm khi xảy ra, và thường viêm khớp không đối xứng.

            Ngón tay sưng  xảy ở bàn tay hoặc bàn chân, Có thể do viêm khớp bàn ngón kết hợp với viêm bao gân gấp.

3.3 Thể cột sống

            Bệnh lý cột sống kèm viêm hoặc triệu chứng lâm sàng có viêm, cứng cột sống, hoặc viêm khớp cùng chậu(khớp cùng chậu nằm ở phía sau, giữa hai mông, nơi tiếp giáp giữa xương cùng cụt nằm dưới cột sống thắt lưng và phía sau của hai xương cánh chậu)

4. Điều trị
4.1 Nguyên tắc điều trị:


            - Kết hợp điều trị song song các tổn thương da và khớp. Hầu hết các thuốc điều trị viêm khớp cũng có tác dụng trên các tổn thương da.
            - Kết hợp giữa dùng thuốc và các vật lý trị liệu để hồi phục chức năng vận động;

            - Với các thể viêm khớp nhẹ, khu trú ở một vài khớp có thể chỉ cần dùng các thuốc kháng viêm không steroid đơn độc hoặc phối hợp với chích corticosteroid tại khớp. Thể trung bình, nặng thường đòi hỏi sử dụng các thuốc điều trị cơ bản như methotrexate.


4.2 Điều trị tổn thương da:


            - Nhẹ: dùng thuốc bôi tại chỗ như anthralin, mỡ vitamin D, mỡ salixylate, mỡ corticosteroid
            - Nặng hơn: phối hợp với các thuốc điều trị toàn thân như methotrexate, liệu pháp hóa-quang (methoxypsoralen kết hợp với chiếu tia cực tím A sóng dài), các dẫn chất acid retinoic (etretinate), cyclosporin, các chế phẩm sinh học.


4.3 Các thuốc điều trị viêm khớp vảy nến:
a. Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID):


            - Đây là nhóm thuốc thường được lựa chọn đầu tiên, song chủ yếu để điều trị triệu chứng, thường không có tác dụng trên tổn thương da, không ngăn chặn được sự phá hủy khớp.
            - Cần lưu ý các tác dụng phụ, đặc biệt trên đường tiêu hóa, thận, và nguy cơ tim mạch (đối với các thuốc ức chế chọn lọc COX-2).
b. Corticosteroid:


            - Rất thận trọng khi sử dụng thuốc corticoid đường toàn thân vì hiệu quả hạn chế và có thể làm cho bệnh nặng lên khi giảm liều hoặc ngưng thuốc, đặc biệt là biến chứng gây đỏ da toàn thân.
            - Corticoid có thể cần thiết đối với những bệnh nhân đã sử dụng kéo dài hoặc trong những đợt bệnh bùng phát nặng, ít đáp ứng với các biện pháp điều trị khác.
            - Đối với các thể viêm vài khớp có thể sử dụng tiêm corticoid nội khớp.
c. Các thuốc điều trị cơ bản, làm thay đổi bệnh (DMARD): Chỉ định cho viêm khớp vảy nến trung bình và nặng. Các thuốc này có tác dụng đối với cả tổn thương da và khớp.
Methotrexate: là thuốc được sử dụng rộng rãi nhất trong điều trị viêm khớp vảy nến. Sử dụng một lần mỗi tuần, liều lượng 7,5-25 mg/tuần, bắt đầu từ liều thấp 7,5-10 mg/tuần, tăng dần tùy theo đáp ứng điều trị và tác dụng phụ. Liều trên 15 mg/tuần có thể dùng dạng
            - Tiêm bắp hoặc tiêm dưới da. Methotrexate liều thấp nói chung ít tác dụng phụ và đa phần là nhẹ, gồm buồn nôn, chán ăn, viêm dạ dày, mệt, tăng nhẹ men gan, nặng hơn là ức chế tủy xương, nhiễm độc gan, xơ phổi. Việc bổ sung acid folic 1-5 mg/ngày có thể làm hạn chế tác dụng phụ của methotrexate.
            - Các DMARD khác: Sulfasalazine, leflunomide, hydroxychloroquine, cyclosporine A và các thuốc ức chế miễn dịch khác cũng có thể được sử dụng nếu không dùng được methotrexate.
d. Các chế phẩm sinh học: Được chỉ định cho những bệnh nhân nặng hoặc không đáp ứng đầy đủ với các thuốc DMARD cổ điển như methortrexate. Các thuốc này có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với methotrexate.
            - Thuốc kháng tế bào limpho B (rituximab), một số chế phẩm sinh học khác.
            - Các thuốc kháng TNF-α: infliximab, etanercept, adalimumab
            - Các thuốc ức chế yếu tố đồng kích thích (ức chế hoạt hóa tế bào T): alefacept, efalizumab