1. Khái niệm

Chóp xoay gồm 4 cơ của khớp vai, theo thứ tự từ trước ra sau là cơ dưới vai, cơ trên gai, cơ dưới gai và cơ tròn bé. Nhóm các cơ này có tác dụng giữ vững khớp vai một phần và có nhiệm vụ cử động vai giúp cho khớp vai là khớp trong cơ thể có tầm vận động lớn nhất.

Khớp vai cũng là khớp được sử dụng nhiều trong suốt đời người và đây cũng chính là điểm làm cho chóp xoay dễ bị viêm hay đứt.

2. Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng viêm hay đứt chóp xoay bao gồm lớn tuổi gây thoái hóa gân, tình trạng thiếu máu nuôi gân và do sử dụng quá mức khớp vai.

Chấn thương té đập vai xuống nền cứng như trong các tai nạn giao thông hay tai nạn lao động. Đặc biệt là các chấn thương do vận động quá mức của các vận động viên cử tạ, thể hình, vận động viên bóng chuyền, tennis,

3. Triệu chứng :

Bệnh hay xảy ra trên những người tuổi trên 40. Triệu chứng đầu tiên là đau ở vùng vai. Cơn đau có đặc điểm đau vùng vai lan lên tới cổ (làm dễ chẩn đoán lầm với thoái hóa cột sống cổ), lan xuống cánh tay nhưng dừng lại ở vùng khuỷu tay.

Đau vào đêm khuya đôi khi làm bệnh nhân mất ngủ, đau khi nằm nghiêng bên vai bị đau. Cảm giác yếu, mỏi cánh tay khi nhấc tay và khi làm việc với cánh tay tư thế dạng.

Bệnh lâu ngày dẫn tới rách lớn chóp xoay làm bệnh nhân cử động vai khó khăn, đặc biệt khi dang tay lên tới đầu sẽ có một cung đau tức là ở một đoạn nào đấy gây đau, các đoạn còn lại không bị đau, rách nặng hơn làm bệnh nhân không giơ tay lên được hay khi giơ lên được thì khi hạ xuống tay sẽ bị rớt đột ngột mà không thể giữ lại được.

4. Cách chẩn đoán:

Khi bạn đi khám bệnh các bác sĩ sẽ làm một số nghiệm pháp khám đặc biệt để phát hiện gân bị viêm hay rách. Chụp khớp vai 3 tư thế thẳng, nghiêng và Lamy và chính xác nhất là chụp MRI có bơm thuốc tương phản từ vào trong khớp.

5. Điều trị:

Tùy thuộc tình trạng viêm hay rách chóp xoay, rách lớn hay nhỏ, tuổi bệnh nhân mà sẽ có những chiến lược điều trị khác nhau. Thông thường bắt đầu bằng sử dụng thuốc kháng viêm giảm đau và thuốc giãn cơ, kèm thêm việc tập vật lý trị liệu làm hạ vai xuống. Tiêm corticoid vào khớp vai cũng là một phương pháp điều trị nhưng phải rất cẩn thận vì nếu bị nhiễm trùng sẽ rất tai hại.

 Trong trường hợp uống thuốc không bớt hoặc chóp xoay bị rách thì phương án tiếp theo sẽ là mổ khâu lại gân. Có nhiều phương pháp mổ nhưng hiện tại đa số áp dụng phương pháp mổ nội soi.

Phương pháp nội soi cho kết quả tương đương mổ mở nhưng làm giảm thiểu tình trạng tổn thương cơ xung quanh, thời gian hồi phục nhanh hơn. Vết mổ nhỏ hơn, ít đau sau mổ. Sau khi mổ xong bệnh nhân cần được hạn chế cử động tay trong khoảng thời gian ít nhất là 3-6 tuần để gân lành và sau đó là chương trình tập vật lý trị liệu để phục hồi tầm hoạt động cho khớp vai. Tỉ lệ gân lành nói chung là khoảng 75%, tuy nhiên tỉ lệ bệnh nhân hài lòng, bớt đau sau mổ lên đến 90% hoặc hơn tùy theo tác giả.

6. Phục hồi chức năng

Phục hồi chức năng nhằm mục đích tránh teo cơ và cứng khớp đồng thời phục hồi sức mạnh của các cơ sau một thời gian bị bệnh đã bị kém đi. Đối với phục hồi chức năng khớp vai, quá trình này sẽ diễn ra rất chậm, bắt đầu là những bài tập vận động thụ động kéo dài trong vài tuần, sau đó mới là những bài tập chủ động. Quá trình tập này có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng tuỳ theo việc có thực hiện phẫu thuật tạo hình lại gân chóp xoay hay không.

Trong một số trường hợp, tổn thương của chóp xoay lớn hoặc là diễn biến đã lâu, tình trạng cơ yếu kéo dài, việc phục hồi chức năng có thể chỉ cải thiện một phần, đôi khi bệnh nhân phải tập để thay đổi thói quen sử dụng cánh tay bị tổn thương