1. Khái niệm:

2. Nguyên nhân:

3. Triệu chứng:

4. Các xét nghiệm:

5. Các thể bệnh:

6. Biến chứng:

7. Điều trị:

8. Phòng bệnh:

9. Câu hỏi liên quan:

1. Khái niệm:

Suy giáp trạng thường thấy ở 2 loại tuổi hết sức trái ngược nhau: trẻ con và lứa tuổi từ 60 – 70 tuổi. Đó là tình trạng thiếu hụt hoóc môn tuyến giáp, không đủ cung cấp cho các tế bào của cơ thể. Ở những người mắc bệnh này, tuyến giáp có thể phình to (gây bướu cổ) hoặc không. Suy giáp làm tăng nguy cơ tai biến tim mạch, có thể gây hôn mê, ngừng thở...

2. Nguyên nhân:

2.1. Suy giáp tiên phát: Do bệnh lý tại tuyến giáp

- Viêm giáp : viêm giáp Hashimoto, viêm giáp xơ hoá Riedel, viêm giáp bán cấp, viêm giáp sau sanh…

- Thiếu Iode kéo dài.

- Do điều trị : sau điều trị bằng Iode đồng vị phóng xạ, phẫu thuật tuyến giáp, điều trị bằng thuốc kháng giáp tổng hợp ở bệnh nhân Basedow.

- Rối loạn tổng hợp hormone tuyến giáp bẩm sinh: do thiếu men một phần hay hoàn toàn.

- Dùng các thuốc có chứa iod kéo dài như Amiodaron, thuốc ho, thuốc cản quang..…

- Suy giáp bẩm sinh : Bất sản hay loạn sản tuyến giáp - do thiếu iod - do mẹ dùng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp trong thời gian mang thai…

- Do thuốc gây ức chế tổng hợp hormon tuyến giáp: thiocyanate, perchlorate, lithium ( điều trị bệnh tâm thần), resorcinol (công nhân ngành dệt), ………..

- Bệnh lý toàn thân có thâm nhiễm tuyến giáp như hemochromatosis, amyloidosis, cystinosis, sarcoidosis, sleroderma…

2.2. Suy giáp thứ phát:

Do u tuyến yên, sau phẫu thuật tuyến yên, do tuyến yên bị phá hủy (Hội chứng Sheehan), bệnh lý thâm nhiễm…. Suy tuyến yên có thể toàn bộ hay thiếu đơn độc TSH.

2.3. Suy giáp đệ tam cấp:

Rối loạn chức năng vùng hạ đồi gây giảm TRH => tuyến yên giảm TSH => tuyến giáp giảm sản xuất T3 T4. Do u, chấn thương, bệnh lý thấm nhuận, vô căn..

2.4. Đề kháng với hormone giáp:

Trong đó chỉ có đề kháng hormone giáp chọn lọc tại mô ngoại vi mới gây suy giáp có bất thường ở thụ thể đối với T4ở tế bào.

3. Triệu chứng:

3.1. Suy giáp nguyên phát: Thường gặp nữ > 50 tuổi.

Triệu chứng da niêm, niêm mạc:

- Da xanh, do thiếu máu nhẹ.

- Thường có màu vàng xáp: Màu giống màu caroten, vì thiếu thyroxin nên caroten không chuyển thành vitamin.

- Da khô: Đặc biệt vùng nách, lòng bàn tay.

- Da lạnh: Thân nhiệt và nhiệt độ da giảm hơn người bình thường.

- Phù: Ở mi mắt, chân, phù trắng, không có dấu hiệu ấn lõm.

- Trán: Có nhiều nếp nhăn, mũi tẹt.

- Mặt tròn như mặt trăng, ít biểu lộ tình cảm.

- Môi dày, phồng ra.

- Ngón chân, ngón tay to nhưng xanh, khô và lạnh.

- Mỏm chân, mỏn tay có khía, dễ gẫy.

- Tóc và lông thưa và rụng nhiều.

- Lông mi rụng nhiều, nhất là phía đuôi.

- Phù niêm trở nên nặng thêm khi có thêm các khối giả mỡ ở cổ, hõm trên đòn và nách.

- Cơ thường không bị thâm nhiễm: Tạo ra sự phì đại cơ, thấy ở mọi lứa tuổi.

- Thanh hầu to, gây nói ồm ồm và trầm do thâm nhiễm vào thanh quản và dây thanh âm.

- Lưỡi to, bè ra hai bên.

- Ù tai và giảm thính lực, hoặc điếc.

Triệu chứng giảm chuyển hóa:

- Sợ lạnh, thân nhiệt giảm, mặc áo ấm ngay cả mùa hè.

- Rối loạn điều tiết nước uống: uống ít, tiểu ít, có hiện tượng chậm bài niệu.

- Cân nặng thường tăng mặc dù ăn uống ít.

- Rối loạn nhu động ruột: táo bón kéo dài.

- Giảm tiết mồ hôi rất đáng chú ý.

Triệu chứng tim mạch:

- Nhịp đập chậm: Tiếng tim yếu, tần số thường dưới 60 chu kỳ/ phút, HA tâm thu thấp.

- Có đau vùng trước tim hay cơn đau thắt ngực thực sư, khó thở gắng sức.

- Khám thấy mỏm tim đập yếu, diện tim rộng, tiếng tim nghe mờ nhỏ.

- Có thể tràn dịch màng ngoài tim.

Triệu chứng thần kinh - cơ:

- Teo cơ co rối loạn chuyển hóa protéin thường gặp, tuy nhiên do hiện tượng thâm nhiễm dạng nhầy ở cơ nên có hiện tượng giả phì đại cơ.

- Cảm giác duỗi cứng cơ, giảm phản xạ gây xương. Kéo dài thời gian phản xạ gân gót, hay bị vọp bẻ.

Triệu chứng tâm thần:

- Thường thờ ơ, chậm chạp, trạng thái vô cảm.

- Suy giảm các hoạt động cơ thể, hoạt động trí óc, hoạt động sinh dục.

Triệu chứng nội tiết:

- Bướu giáp có thể to hay không to.

- Rối loạn kinh nguyệt: thiểu kinh hay vô kinh.

- Kèm chảy sữa.

3.2. Suy giáp thứ phát:

- Không có bướu giáp lớn.

- Lâm sàng thường không có phù niêm.

- Triệu chứng thiếu máu rõ.

- Kèm các biểu hiện suy thượng thận, suy sinh dục hay biểu hiện rối loạn tuyến nội tiết khác như vô kinh chảy sữa ( tăng prolactin)..

- Rất dễ bị hạ đường huyết

- Có tiền căn bệnh lý tuyến yên, phẫu thuật tuyến yên hoặc triệu chứng u tuyến yên chèn ép.

Các triệu chứng điển hình của suy giáp:

- Mệt mỏi, giảm khả năng gắng sức, có khi tăng cân.

- Sợ lạnh, da khô và thô, da tái lạnh; tóc dễ rụng gãy, rụng lông mày, lông nách, lông mu thưa.

- Phù niêm mạc toàn thể, da mỡ (trông láng bóng), thâm nhiễm các cơ quan như mi mắt (nặng mí mắt), lưỡi (lưỡi to dày), thanh quản (nói khàn, khó thở), cơ (gây giả phì đại cơ).

- Dễ táo bón.

- Nhịp tim chậm, tim to, tràn dịch màng tim; nếu suy giáp nặng có thể suy tim (nhất là khi có thiếu máu đi kèm).

- Suy nghĩ và vận động chậm chạp, nói chậm, trí nhớ giảm.

4. Các xét nghiệm:

4.1. Ảnh hưởng của sự thiếu hụt hormone tuyến giáp ở ngoại vi:

- CTM: Thiếu máu đẳng sắc hay nhược sắc, hồng cầu bình thường hay lớn.

- Giảm CHCB < - 10% so với bình thường.

- Thời gian phản xạ gân gót kéo dài > 320ms.

- Cholestérol máu > 3g/l (300mg%).

- Lipide máu toàn phần tăng, triglycéride cũng tăng.

- Créatinine Phosphokinase (CPK) tăng > 70 UI/l.

4.2. Định lượng hormone giáp lưu hành:

- Nồng độ hormon giáp /máu : Giảm T3, T4, FT4, FT3 giảm.

- Nồng độ TSH / máu: Bình thường 0,1 – 4 mUI/ mL.

Suy giáp TSH tăng => Suy giáp do bệnh lý tuyến giáp.

Suy giáp TSH giảm => Suy giáp do bệnh lý tuyến yên.

4.3. Các xét nghiệm giúp chẩn đoán nguyên nhân:

a) Nồng độ Iode trong máu toàn phần:

- Nếu tăng chứng tỏ suy giáp có thể do quá tải Iode.

- Nếu giảm Iode toàn phần (giảm < 4 mcg%.) thường là do thiếu Iode.

b) Các kháng thể kháng giáp:

- Kháng thể kháng thyroglobuline > 1/2500 và kháng thể microsome > 1/50 cho phép nghĩ đến khả năng viêm giáp tự miễn.

c) Siêu âm tuyến giáp :

- Giúp đánh giá về kích thước và các bất thường về giải phẫu của tuyến.

d) Sinh thiết tuyến giáp qua chọc hút bằng kim nhỏ:

- Giúp phát hiện các bất thường về mặt mô học của tuyến giáp.

e) Độ tập trung iod 131:

- Chẩn đoán định type các rối loạn tổng hợp hormon giáp bẩm sinh.

f) XN Chẩn đóan SG thứ phát:

- Test Quérido: Chẩn đoán nguyên nhân suy giáp tại tuyến giáp hay tại tuyến yên.

- CT scan tuyến yên: Có u tuyến yên, hố yên rỗng, teo tuyến yên.

- Đo hormon tuyến yên: Prolactin, ACTH, FSH, LH, TSH, GH.

5. Các thể bệnh:

5.1. Suy giáp tiên phát:

- Do căn nguyên miễn dịch (như viêm tuyến giáp Hashimoto).

- Sau phẫu thuật cắt tuyến giáp hoặc điều trị bằng iốt phóng xạ (kể cả phóng xạ vùng cổ).

- Do dùng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp điều trị bệnh basedow, (neomercazol, thyrozol, novacarb, lithium...).

- Do thiếu hụt iốt nặng.

- Bẩm sinh hoặc mắc phải trong tử cung (suy giáp trẻ mới đẻ).

5.2. Suy giáp thứ phát:

Do suy thùy trước tuyến yên (hiếm gặp).

5.3. Suy giáp do vùng dưới đồi:

Rất hiếm gặp.

5.4. Suy giáp dưới lâm sàng:

Không có biểu hiện. Thể bệnh này khá phổ biến, chiếm 5-13% dân số.

6. Biến chứng:

6.1. Biến chứng tim mạch:

- Cao huyết áp: Bệnh suy giáp có tình trạng tăng cholesterol, một yếu tố nguy hiểm cho xơ vữa động mạch và cao huyết áp.

- Đau ngực: Là sự thay đổi chuyển hóa của cơ tim có lẽ cũng có liên quan tới sự thâm nhiễm ở cơ tim, phối hợp với tim to và trọng lượng tim nặng hơn trong suy giáp.

- Suy tim

6.2. Biến chứng thần kinh:

- Bại nửa người hoặc tăng co cơ.

- Nhức nửa đầu do rối loạn thần kinh tuần hoàn, thuận lợi thêm do suy giáp trạng

- Rối loạn tâm thần kiểu u sầu.

6.3. Biến chứng sinh dục:

Thường gây suy sinh dục ở cả hai giới: Ở phụ nữ rối loạn kinh nguyệt vô kinh hoặc kinh kéo dài do thiếu oestrogen hoặc progesteron.

6.4. Tai biến nặng nhất là hôn mê do suy giáp trạng:

Biến chứng này thường xảy ra ở phụ nữ (9/10 trường hợp) và thường ở người nhiều tuổi, hay bị vào mùa lạnh. Thường xảy ra từ từ, báo hiệu trước bằng sự rất mệt mỏi về thể xác và tinh thần, ít khi xuất hiện đột ngột.

7. Điều trị:

Ngoài số ít các trường hợp suy giáp do dùng thuốc kháng giáp thì suy giáp có thể hồi phục khi ngưng thuốc; còn đa số các trường hợp khác đều phải điều trị bằng hormone giáp trạng.

7.1. Suy giáp trạng tiên phát:

- Phải điều trị lâu dài.

- Liều lượng bắt đầu thấp rồi tăng dần tới một liều thay thế thích hợp.

- Nên dùng một liều tối thiểu để giữ cân bằng không nên tạo ra tình trạng đẳng giáp trạng hoàn hảo. Có thể dùng 1 trong 3 loại dược phẩm sau: Tinh chấp giáp trạng, thyroxin, T3. Liều thăm dò phải kéo dài 15 ngày, theo dõi tác dụng thuốc sau đó mới tăng hoặc giảm liều dùng.

- Để tránh các biến chứng, cần theo dõi bệnh nhân: Mạch, nhiệt độ, cân nặng hàng tuần, đo huyết áp hàng ngày

7.2. Điều trị suy giáp do suy tuyến yên:

- Trước hết phải dùng thuốc loại cocticoit liều thích hợp để điều trị suy vỏ thượng thận mỗi ngày.

- Sau đó mới cho nội tiết tố giáp trạng như  trường hợp suy giáp tiên phát.

- Thêm testesteron cho nam và oestrogen cho nữ.

- Nếu có điều kiện thì dùng TSH ( nội tiết tố tuyến giáp).

8. Phòng bệnh:

- Chế độ ăn bổ xung muối iốt hạn chế tỷ lệ mắc bệnh.

- Tất cả trẻ bị suy giáp bẩm sinh phải được theo dõi về lâm sàng và XN định kỳ. Trong đó XN toàn bộ hormone tuyến giáp hoặc chỉ riêng lẻ mình hormone T4 và TSH mỗi 4-6 tuần sau khi bắt đầu điều trị, sau đó mỗi 1-3 tháng trong năm đầu tiên của cuộc sống và mỗi 2-4 tháng trong năm thứ hai và thứ ba. Đối với những trẻ lớn hơn 3 tuổi quá trình theo dõi được tiến hành thường qui 6tháng hoặc 1 năm/lần.

Việc điều trị suy giáp thường không khó. Mục tiêu điều trị là giúp bệnh nhân cảm thấy khỏe hơn, giảm các triệu chứng nhược giáp. Khi bắt đầu điều trị, bệnh nhân sẽ được theo dõi bằng xét nghiệm TSH, T4 mỗi tháng 1 lần cho đến khi đạt kết quả điều trị; sau đó xét nghiệm TSH, T4 thực hiện ít nhất 1 lần/năm.

Điều trị suốt đời là yêu cầu phải thực hiện (trừ trường hợp bị suy giáp tạm thời do vi-rút). Nếu không điều trị sẽ tăng các nguy cơ: Sinh trẻ bị dị tất bẩm sinh, bệnh tim, suy tim. Tuy nhiên, điều trị quá liều sẽ tăng nguy cơ đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, loãng xương.

Dùng thuốc phải theo chỉ dẫn của bác sĩ, không được tự ý ngưng thuốc đột ngột. Đang điều trị suy giáp cần đến bác sĩ khám ngay khi có đau ngực hoặc nhịp tim nhanh; có nhiễm trùng; các triệu chứng suy giáp nặng hơn hoặc không cải thiện; xuất hiện những triệu chứng mới. Người mắc bệnh này nên đến khám và điều trị tại các bệnh viện có chuyên khoa nội tiết.

9. Câu hỏi liên quan:

Câu hỏi:

Người mắc bệnh suy giáp điều trị bằng thuốc kháng giáp chứ không xạ trị thì có thể khỏi được không và phải điều trị bao lâu mới hết bệnh? Trong quá trình điều trị nếu có những triệu chứng bất thường như mắt lồi thì sau khi khỏi bệnh những triệu chứng này có mất đi không?

Trả lời:

Suy giáp được định nghĩa là sự thiếu hoặc không có hocmon tuyến giáp. Suy giáp nguyên nhân do bệnh hoặc tổn thương tại tuyến gọi là suy chức năng tuyến giáp tiên phát. Nếu do suy chức năng thùy trước tuyến yên gọi là suy giáp thứ phát hay suy giáp do tuyến yên.

Đây là một bệnh hay gặp trong lâm sàng nội khoa cũng như ngoại khoa, hay xảy ra sau điều trị bệnh nhiễm độc giáp bằng phẫu thuật hoặc bằng iode phóng xạ và có thể đề phòng những sai sót trong quá trình phát triển bệnh bằng thuốc điều trị đặc hiệu. Trong một số trường hợp suy giáp có bướu cổ to có thể điều trị bằng Thyroxin bướu có thể nhỏ lại bình thường mà không cần phải phẫu thuật.

Như vậy, suy giáp có thể gặp trong quá trình điều trị các bệnh nhiễm độc giáp bằng phẫu thuật cắt bỏ tuyến quá nhiều hay Iode phóng xạ trong các bệnh cường giáp trước đây là chủ yếu. Việc điều trị bằng thuốc kháng giáp cũng làm cho tuyến giáp to ra và gây hiện tượng suy tuyến giáp. Do vậy, để đề phòng tác dụng này thường bệnh nhân được điều trị một liều lượng hocmon tuyến giáp Thyroxin.

Lồi mắt có thể xuất hiện ở những bệnh nhân được điều trị bằng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp, bằng iode phóng xạ hay sau phẫu thuật, cũng có những trường hợp lồi mắt khi chức năng tuyến giáp bình thường hoặc giảm. Về tiến triển của lồi mắt có khi kéo dài rất lâu ở mức độ nhẹ nhưng cũng có trường hợp tiến triển nặng lên rất nhanh. Cơ chế của lồi mắt cũng rất phức tạp và chưa được sáng tỏ, do vậy khó lường trước được lồi mắt có thể hết hẳn hay không sau quá trình điều trị.