1 Phình giáp đơn thuần

Là loại thường thấy nhất, đặc biệt bệnh nhân nữ.

Bệnh nhân không có rối loạn chức năng tuyến giáp (vì vậy có tên là phình giáp thường).

 

Có 3 nhóm nguyên nhân chính gây bệnh:

Thường do thiếu iode trong thực phẩm. Bệnh có xuất độ cao ở những vùng thiếu iode (như vùng núi), khi đó cũng được gọi là phình giáp dịch vùng.

Do rối loạn thần kinh-nội tiết tố ở trẻ gái dậy thì, ở phụ nữ mãn kinh hoặc trong thai kỳ.

Do dùng quá nhiều thực phẩm (cải bắp, củ cải, xu hào, đậu nành) có chứa cyanates và những chất có tác dụng chống nội tiết tố tuyến giáp hoặc do bệnh nhân dùng những thuốc có thyocyanate, salicylate, thiouracil. Những nguyên nhân này có thể gây phình giáp kèm thiểu năng tuyến giáp.

 

Có 3 loại phình giáp đơn thuần:

Phình giáp lan tỏa

Thường là giai đoạn đầu của phình giáp đơn thuần. Tuyến giáp to đều 2 bên , có khi nặng 1000g, thuần nhất, đơn dạng. Mật độ mềm, diện cắt nhầy, bóng do có nhiều chất keo vì vậy gọi là phình giáp keo. Hoặc mật độ rắn, diện cắt không nhầy và giống mô giáp bình thường được gọi là phình giáp mô chủ.

Cấu trúc gồm những túi tuyến dãn rộng, chứa nhiều keo giáp đặc, phủ tế bào thượng mô hình khối thấp hoặc bị dẹt (trong phình giáp keo). Đôi khi, các túi tuyến nhỏ chứa ít keo giáp (trong phình giáp mô chủ).

Phình giáp cục (không độc)

Cũng được gọi là phình giáp nhân (đơn nhân hoặc đa nhân) hay phình giáp hạt (đơn hạt hay đa hạt).

Có thể đơn cục, nhưng thường là đa cục. Là giai đoạn sau của phình giáp đơn thuần, do những biến đổi của mô giáp như thoái hoá xen lẫn tái tạo, phì đại, ứ đọng keo giáp tạo nên những cục.

Mô giáp có một cục, nhưng thường nhiều cục, kích thước và vị trí rất khác nhau trong mô tuyến, có 4 đặc điểm chính: có cục, xuất huyết, hoá bọc, hoá canxi.

Bọc giáp

Hầu hết các bọc giáp là do hiện tượng thoái hoá bọc của một cục trong bệnh phình giáp cục. Đôi khi, từ một túi tuyến bình thường bị xuất huyết hoặc thoái hoá bọc. Hiếm hơn, có thể từ một u thật.

Bọc giáp có thể nhỏ, đường kính dưới 1cm, hay to, đường kính 6 đến 10cm. Trong bọc chứa chất keo giáp hoặc dịch đỏ của máu cũ, hoặc dịch nâu sền sệt chất keo. Vỏ bọc lót bởi lớp thượng mô trụ hoặc thượng mô chuyển sản gai.

 

2 Phình giáp kèm cường giáp

(Còn gọi là bệnh Basedow, bệnh Graves hoặc phình giáp lồi mắt). Bệnh do tăng sản nguyên phát của mô tuyến giáp. Bệnh nhân có triệu chứng cường giáp, lồi mắt và phì đại lan tỏa của tuyến giáp.

Bệnh có xuất độ cao thứ nhì sau phình giáp đơn thuần, thường gặp ở phụ nữ, nhiều nhất ở khoảng 30 đến 40 tuổi, tỷ lệ nữ/nam là 5/1.

Bệnh căn có liên quan đến cơ chế tự miễn vì thấy bệnh nhân có nhiều globulin miễn dịch chống giáp gây những rối loạn chức năng tuyến giáp và tuyến yên.

Tuyến giáp to đều lan tỏa, diện cắt nhiều thùy, đỏ nâu, chắc, thuần nhất như thịt không nhầy, nhiều máu.

Cấu trúc gồm những túi tuyến tăng số lượng, nhưng có kích thước nhỏ, tế bào túi tuyến có hình trụ, có nơi tăng sản tạo những nhú vào lòng túi tuyến, Lòng túi hẹp, ít keo giáp và có nhiều hốc nhỏ (không bào) ở sát thượng mô. Mô đệm nhiều sợi liên kết và mạch máu, thường có thấm nhập limphô bào, có nơi tạo thành nang limphô. Hình thái tổn thương bị biến đổi nhiều do sử dụng thuốc hoặc do mô giáp bị kích thích. Túi tuyến có thượng mô cao và ít chất keo khi hoạt động, thượng mô thấp dẹt và nhiều chất keo khi tuyến nghỉ.

3 Phình giáp cục-độc hay phình giáp nhân-độc

Bệnh nhân nhiều tuổi, có cường giáp trung bình và thường không bị lồi mắt.

Bệnh gây ra do những chu kỳ tăng sản và phì đại tác dụng không đều trên mô tuyến giáp, tạo những cục trong mô giáp. Những biến đổi này có thể xảy ra trên phình giáp đơn thuần sẵn có và còn được gọi là bệnh Basedow thứ phát.

Mô tuyến giáp lớn không đều, có những cục kích thước khác nhau trên nền mô sợi có những vùng thoái hoá. Diện cắt giống như thịt, chắc do tăng sản hay có thể mềm và bóng do chứa keo giáp.

Cấu trúc gồm những túi tuyến giống như trong bệnh Basedow, dễ phân biệt với những túi tuyến nhỏ ở mô kế cận.

Một số u tuyến túi lành và carcinom tuyến túi có thể tăng sản kèm triệu chứng cường giáp, khó phân biệt với phình giáp cục độc.

 

4 Phình giáp kèm thiểu năng tuyến giáp

Thiểu năng tuyến giáp gây bệnh đần ở trẻ nhỏ và bệnh phù nhầy ở người lớn.

Bệnh đần

Do tuyến giáp thiểu sản hoặc kém phát triển. Tuyến giáp có thể không có (hoặc có rất ít) túi tuyến và chỉ có mô sợi. Bệnh thường xảy ra ở những vùng có bệnh phình giáp dịch vùng.

Nguyên nhân do bệnh di truyền gây những rối loạn trong tổng hợp nội tiết tố tuyến giáp. Mô giáp có thượng mô túi tuyến tăng sinh mạnh với các tế bào không đều, đa dạng, giống tế bào u tuyến.

Phù nhầy

Phình giáp kèm phù nhầy thường xảy ra ở bệnh nhân dùng thuốc có iode trong một thời gian quá dài. Trong máu các bệnh nhân phù nhầy (80% các trường hợp) thấy có kháng thể chống thyroglobulin.

Cấu trúc vi thể khiến người ta nghĩ phù nhầy có thể là giai đoạn trễ của viêm giáp mạn tính và lan tỏa. Mô giáp bị teo đét, không hoạt động, xơ hoá.

Các tổn thương phù nhầy còn biểu hiện ở nhiều vùng cơ thể (như cơ vân, động mạch chủ, tim...).