1. Đại cương

2. Nguyên nhân

3. Triệu chứng

4. Các xét nghiệm

5. Một số thể bệnh lâm sàng

6. Biến chứng

7. Phương pháp điều trị

8. Chế độ dinh dưỡng

9. Người bệnh hỏi- BS trả lời

 

1. Đại cương:

1.1. Định nghĩa:

       Bệnh Basedow (dân gian thường gọi là bướu cổ lồi mắt, bướu tim) là bệnh cường chức năng, phì đại và cường sản tuyến giáp. Những biến đổi bệnh lý trong các cơ quan và tổ chức là do tác dụng của các hormon tuyến giáp tiết quá nhiều vào trong máu.

1.2. Danh pháp:

       Bệnh mang nhiều tên gọi khác nhau tùy tập quán quen dùng ở từng quốc gia.

       + Bệnh bướu tim.

       + Bệnh Graves.

       + Bệnh Parry.

       + Bệnh bướu tuyến giáp có lồi mắt.

       + Bệnh bướu tuyến giáp lan toả nhiễm độc có/ không có biểu hiện bệnh lý mắt.

       + Bệnh cường chức năng tuyến giáp miễn dịch.

       + Bệnh cường chức năng tuyến giáp tự miễn dịch.

 

2. Nguyên nhân:

       - Bệnh được sinh ra là do cơ chế tự miễn dịch.

       - Bệnh hay gặp ở nữ tới 80% các trường hợp, tỷ lệ bị bệnh ở nữ và nam là 9/1, thường ở phụ nữ lứa tuổi 20- 50, hiếm gặp ở trẻ em < 10 tuổi và sau 60 tuổi.

       - Thường có tiền sử gia đình của các bệnh giáp trạng khác.

       Một vài yếu tố ghi nhận có thể gây đáp ứng miễn dịch trong Basedow như:

       - Thai nghén nhất là giai đoạn chu sinh (hậu sản).

       - Dùng nhiều iod có thể iod làm khởi phát bệnh Basedow tiềm tàng.

       - Dùng lithium làm thay đổi đáp ứng miễn dịch.

       - Nhiễm trùng và nhiễm virus.

       - Ngừng corticoid đột ngột.

       - Những giai đoạn sinh dục và các stress tâm thần có thể là các yếu tố khởi phát bệnh.

 

3. Triệu chứng:

       Chia làm 2 nhóm hội chứng lớn, đó là biểu hiện tại tuyến giáp và ngoài tuyến giáp.

3.1. Tại tuyến giáp:

3.1.1. Bướu giáp:

      Bướu giáp lớn, thường lan tỏa, tương đối đều, mềm, đàn hồi hoặc hơi cứng, có thể có rung miu tâm thu, thổi tâm thu tại bướu, nếu bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan lân cận.

      Một số biểu hiện rối loạn vận mạch vùng cổ (đỏ, da nóng, tăng tiết mồ hôi), vẫn có một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân không có bướu giáp lớn (liên quan kháng thể).

3.1.2. Hội chứng nhiễm độc giáp:

       - Tim mạch: Hồi hộp, nhịp tim nhanh, loạn nhịp, khó thở khi gắng sức lẫn khi nghỉ ngơi. Ở các động mạch lớn, mạch nảy nhanh và nghe tiếng thổi tâm thu, huyết áp tâm thu gia tăng (tăng cung lượng tim) so với huyết áp tâm trương, hiệu áp gia tăng, trường hợp nặng suy tim loạn nhịp, phù phổi, gan to, phù hai chi dưới.

       - Thần kinh cơ: Run rõ ở bàn tay là triệu chứng dễ nhận biết và nổi bật kèm theo yếu cơ. Bệnh nhân thường mệt mỏi, dễ kích thích, thay đổi tính tình, dễ cảm xúc, nói nhiều, bất an, không tập trung tư tưởng, mất ngủ.

    Rối loạn vận mạch ngoại vi, mặt khi đỏ khi tái, tăng tiết nhiều mồ hôi, lòng bàn tay, bàn chân ẩm. Phản xạ gân xương có thể bình thường, tăng hoặc giảm. Đặc biệt dấu hiệu yếu cơ, teo cơ, yếu cơ hô hấp gây khó thở, yếu cơ thực quản làm khó nuốt hoặc nói nghẹn.

       - Dấu hiệu tăng chuyển hóa: Tăng thân nhiệt, luôn có cảm giác nóng, tắm nhiều lần trong ngày, gầy nhanh, uống nhiều nước, khó chịu nóng, lạnh dễ chịu. Ngoài ra có các biểu hiện rối loạn chuyển hóa calci gây tăng calci máu hoặc hiện tượng loãng xương ở người lớn tuổi sau mãn kinh gây biến chứng xẹp đốt sống, gãy xương tự nhiên, viêm quanh các khớp.

       - Biểu hiện tiêu hóa: Ăn nhiều (vẫn gầy), tiêu chảy đau bụng, nôn mửa, vàng da.

       - Tiết niệu sinh dục: Tiểu nhiều, giảm tình dục, rối loạn kinh nguyệt, vô sinh, liệt dương và chứng vú to nam giới.

       - Da và cơ quan phụ thuộc: Ngứa, có biểu hiện rối loạn sắc tố da, có hiện tượng bạch ban ở lưng bàn tay và các chi

          + Tóc khô, hoe, mất tính mềm mại rất dễ rụng; rụng lông.

          + Các móng tay, móng chân giòn dễ gãy.

3.2. Biểu hiện ngoài tuyến giáp:

3.2.1. Thương tổn mắt: Thường hay gặp là lồi mắt.

       - Triệu chứng cơ năng: Chói mắt, chảy nước mắt, cộm như có bụi hay vào mắt, hoặc nóng rát.

       - Triệu chứng thực thể: Lồi mắt.  Thường cả hai bên, nhưng thường lồi nhiều, cùng bên với bướu to hơn bên kia, 10-20% trường hợp lồi mắt chỉ có một bên. Lồi mắt có thể xuất hiện ở những bệnh nhân Basedow đang có nhiễm độc hormon tuyến giáp, ở những bệnh nhân bình giáp sau điều trị bằng các thuốc kháng giáp tổng hợp, phóng xạ hoặc bằng phẫu thuật thậm chí ở cả những bệnh nhân Basedow đã suy giáp sau điều trị.

       Về tiến triển, lồi mắt có khi duy trì rất lâu ở mức độ nhẹ hoặc có thể tiến triển nặng lên nhanh, mức độ của bệnh và mức độ của lồi mắt không song song với nhau. Lồi mắt kèm theo phù mi mắt, phù giác mạc, xung huyết giác mạc.

       Để đánh giá mức độ tổn thương của mắt trong bệnh Basedow, người ta dùng xếp loại của Werner (American Thyroid association):

* Mức độ tổn thương mắt trong bệnh Basedow.

 

Độ

 

Biểu hiện

 

0

 

 

Không có biểu hiện

 

 

1

 

 

Co cơ mi trên (dấu hiệu Dalrymple, Von Graefe).

 

 

2

 

 

Tổn thương phần mềm ở hốc mắt (phù mi mắt)

 

 

3

 

 

Lồi mắt >3mm so với bình thường

 

 

4

 

 

Tổn thương cơ vận nhãn: cơ thẳng dưới và giữa

 

 

5

 

 

Tổn thương giác mạc

 

 

6

 

 

Tổn thương dây thần kinh thị giác

 

3.2.2. Phù niêm:

       Tỉ lệ gặp 2-3%, thường định vị ở mặt trước cẳng chân, dưới đầu gối, có tính chất đối xứng. Da vùng thương tổn hồng, bóng, thâm nhiễm cứng (da heo), lỗ chân lông nổi lên, mọc thưa, lông dựng đứng, bài tiết nhiều mồ hôi. Đôi khi thương tổn lan tỏa từ chi dưới đến bàn chân.

3.2.3. To các đầu chi:

       Đầu các ngón tay và các ngón chân biến dạng hình dùi trống, liên quan đến màng xương, có thể có phản ứng tổ chức mềm, tái và nhiệt độ bình thường phân biệt với bệnh phổi mạn. Ngoài ra có dấu chứng tiêu móng tay.

 

4. Các xét nghiệm:

       - Chuyển hoá cơ sở (CHCS) tăng > 20% so với bình thường.

       - Phản xạ đồ (PXĐ) gân gót: Thời gian phản xạ ngắn.

       - Giảm cholesterol, tăng glucose huyết.

       - 30% trường hợp có tăng canxi huyết.

       - Định lượng hormon giáp lưu hành.

       - Độ tập trung iod phóng xạ tại tuyến giáp:

          + Chỉ số hấp thu ở các thời điểm đều tăng.

          + Tốc độ tăng nhanh, sớm ở các giờ đầu (2-6 giờ).

          + Sau đó giảm nhanh tạo ra “góc thoát”.

       - Thử nghiệm Werner âm tính.

       - Xạ hình và siêu âm: Chủ yếu dùng để khảo sát hình dạng tuyến giáp cho các hình ảnh khác nhau.

       - Miễn dịch phóng xạ có thể định lượng nồng độ các tự kháng thể kháng thụ thể TSH trong huyết thanh.

 

5. Một số thể bệnh lâm sàng:

5.1. Bệnh Basedow ở trẻ em và tuổi trưởng thành:

       - Tuyến giáp thường to.

       - Triệu chứng sớm của bệnh: Hay quên, nhức đầu, trẻ phát triển nhanh về chiều cao và xương nhanh cốt hoá.

       - Các triệu chứng sinh dục kém phát triển, trẻ em ít có suy tim, loạn nhịp hoàn toàn, rối loạn tiêu hoá, ít có cơn nhiễm độc giáp kịch phát, run tay biên độ lớn.

5.2. Bệnh Basedow ở người cao tuổi:

       Trước hết là những rối loạn tim mạch do tổn thương vữa xơ động mạch có trước khi bị bệnh Basedow. Bệnh nhân thường có suy tim, loạn nhịp hoàn toàn, đau ngực do thiểu năng mạch vành. Tuyến giáp to vừa phải, các triệu chứng về mắt không rõ, run tay biên độ lớn.

5.3. Bệnh Basedow ở người có thai:

       Hay bị xảy thai, đẻ non hoặc thai chết ngay sau sinh. Thời gian đầu của thai các triệu chứng bệnh nặng lên, nửa phần sau các triệu chứng giảm đi. Sau khi sinh con và trong thời gian cho con bú bệnh có thể nặng lên.

5.4. Cơn nhiễm độc hormon giáp kịch phát.

       -  Yếu tố thuận lợi gây cơn nhiễm độc hormon tuyến giáp kịch phát:

          + Nhiễm trùng, nhiễm độc.

          + Phẫu thuật tuyến giáp hoặc bên ngoài tuyến giáp.

          + Chấn thương.

          + Hạ đường huyết.

          + Sinh đẻ ở phụ nữ.

          + Sờ nắn mạnh lên tuyến giáp.

          + Chấn thương tâm lý.

          + Ngừng thuốc kháng giáp tổng hợp đột ngột.

          + Điều trị bằng 131I.

          + Toan hoá do tăng xê ton ở bệnh nhân đái tháo đường.

          + Tắc, nghẽn đường thở .

          + Đột qụy não.

       - Triệu chứng:

          + Cơn nhiễm độc hormon tuyến giáp có thể xảy ra từ từ một vài giờ hoặc một vài ngày, song biểu hiện lâm sàng thì thường rầm rộ.

          + Sốt cao, có thể lên tới 39- 40oC.

          + Buồn nôn, nôn, vã mồ hôi, da nóng ẩm, xung huyết, ỉa lỏng dẫn đến rối loạn nước và điện giải, có thể vàng da rất nhanh.

          + Bệnh nhân có thể đau bụng lan toả, gan to, lách to, thay đổi chức năng gan, gan có thể mềm do ứ trệ hoặc hoại tử tế bào gan.

          + Bồn chồn, luôn trong tình trạng hưng phấn không ngủ, có thể loạn thần cấp sau đó vô lực, mệt lả, teo cơ nhanh, có thể giả liệt cơ, thậm chí hôn mê.

          + Nhịp tim nhanh, đa số là nhịp xoang, dễ xuất hiện cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, có thể có các rối loạn nhịp: Ngoại tâm thu, loạn nhịp hoàn toàn, cá biệt có thể suy tim ứ trệ, huyết áp thấp, có thể trụy mạch hoặc sốc tim.

5.5. Thể bệnh theo triệu chứng lâm sàng:

          + Thể tim: Thực ra đây là những thể phức tạp của tình trạng tim mạch trong cường giáp.

          + Thể tăng trọng lượng: Gặp ở bệnh nhân nữ trẻ, với biểu hiện mất kinh nguyệt (5% các trường hợp).

          + Thể suy mòn: Còn gọi là “vô cảm” hay gặp ở người già, triệu chứng lâm sàng hầu như duy nhất là gầy nhiều.

          + Thể tiêu hoá: Tiêu chảy nhiều, gầy nhanh.

          + Thể thần kinh và tâm thần.

          + Giả liệt chu kỳ liên quan tới giảm kali máu.

          + Rối loạn tâm thần: Biểu hiện bằng cơn kích động hoặc bằng tình trạng lú lẫn hay hoang tưởng.

5.6. Thể theo triệu chứng sinh hoá đặc biệt:

       - Cường giáp do tăng T3: Chỉ tăng T3, còn T4 vẫn bình thường, chiếm 5- 10% các trường hợp.

       - Cường giáp do tăng T4 mà T3 vẫn bình thường, ít gặp hơn. Trong cả 2 thể này thử nghiệm TSH đều âm tính.

 

6. Biến chứng:

6.1. Bệnh cơ tim nhiễm độc giáp:

       - Mức độ nhẹ: Nhịp tim nhanh <100 lần/ phút, không có triệu chứng suy tim, sút cân <10% trọng lượng cơ thể; CHCS <30%.

       - Mức độ trung bình: Nhịp tim nhanh 100 đến 120 lần/ phút, có thể có suy tim độ II, sút cân < 20% trọng lượng cơ thể; CHCS <60%.

       - Mức độ nặng: Các triệu chứng lâm sàng rầm rộ có thể có triệu chứng không hồi phục ở các cơ quan nội tạng, nhịp tim ≥ 120 ck/ phút, loạn nhịp tim và suy tim độ III, IV, sút cân tới 30% trọng lượng cơ thể; CHCS ≥ 60%. Có thể có cơn nhiễm độc hormon giáp kịch phát.

6.2. Cơn cường giáp cấp:

       - Thường xảy ra ở bệnh nhân không điều trị hoặc điều trị kém.

       - Khởi phát sau một sang chấn (phẫu thuật, nhiễm trùng hô hấp, chấn thương, tai biến tim mạch, sau sinh...).

       - Khi điều trị triệt để (phẫu thuật, xạ trị liệu) không được chuẩn bị tốt.

6.3. Lồi mắt ác tính: Lồi mắt nhanh, có thể dẩy hẳn nhãn cầu ra khỏi hố mắt gây mù ngay hoặc loét giác mạc gây mù thứ phát.

 

7. Phương pháp điều trị:

       Đến nay có 3 phương pháp điều trị cơ bản:

7.1. Điều trị nội khoa:

       - Giảm nồng độ hormon tuyến giáp là mục tiêu chủ yếu của biện pháp điều trị nội khoa bệnh Basedow.

       - Điều trị tình trạng cường chức năng tuyến giáp trong bệnh Basedow nhằm 3 mục đích sau đây:

          + Làm mất các triệu chứng lâm sàng do cường chức năng tuyến giáp.

          + Duy trì ở mức bình thường nồng độ hormon tuyến giáp, hạn chế việc tăng nồng độ các kháng thể hoặc giảm đến mức thấp nhất nếu có thể được.

          + Nồng độ TSH là một chỉ số có độ nhậy cao đối với việc đánh giá tình trạng cường chức năng tuyến giáp. Duy trì nồng độ TSH huyết thanh ở mức bình thường là một mục tiêu quan trọng của quá trình điều trị bệnh.

7.2. Điều trị bằng đồng vị phóng xạ (I131):

       Đây là phương pháp an toàn đối với bệnh nhân > 40 tuổi, thể trạng yếu, không có bệnh tim kèm theo. Phải căn cứ vào độ tập trung của iod phóng xạ trong 24 giờ.

    Chỉ định:

       - Điều trị nội khoa thời gian dài không có kết quả.

       - Bệnh nhân > 40 tuổi có bướu không lớn lắm.

       - Tái phát sau phẫu thuật.

       - Bệnh Basedow có suy tim nặng không dùng được kháng giáp tổng hợp dài ngày hoặc không phẫu thuật được.

    Chống chỉ định:

       - Phụ nữ có thai, đang cho con bú.

       - Bướu nhân, bướu sau lồng ngực.

       - Hạ bạch cầu thường xuyên.

7.3.  Điều trị ngoại khoa:

       Chỉ định:

       - Điều trị nội khoa kết quả hạn chế, hay tái phát.

       - Bướu giáp quá to.

       - Basedow ở trẻ em điều trị bằng nội khoa không có kết quả.

       - Phụ nữ có thai (tháng thứ 3- 4) và trong thời gian cho con bú.

       - Không có điều kiện điều trị nội khoa.

       Chuẩn bị bệnh nhân:

       - Điều trị bằng thuốc kháng giáp tổng hợp sau 2-3 tháng để đưa bệnh nhân về trạng thái bình giáp, hoặc dùng carbimazole liều cao 50-60mg/ngày trong một tháng (Perlemuter-Hazard).

       - Iod: lugol cho 2-3 tuần trước khi mổ, corticoid 20-30mg/ngày trước phẫu thuật 2-3 tuần.

       - Nếu cho propranolol thì phải ngừng thuốc trước khi phẫu thuật 7-10 ngày.

           + Phương pháp mổ: Cắt gần toàn bộ tuyến giáp chỉ để lại 2-3g ở mỗi thùy để tránh cắt phải tuyến cận giáp.

           + Biến chứng của phương pháp điều trị ngoại khoa:

              . Chảy máu sau mổ.

              . Cắt phải dây thần kinh quặt ngược gây nói khàn hoặc mất tiếng.

              . Khi cắt phải tuyến cận giáp gây cơn tetani.

               . Cơn nhiễm độc hormon giáp kịch phát có thể đưa đến tử vong.

       Chuẩn bị bệnh nhân tốt trước mổ là biện pháp đề phòng xuất hiện cơn nhiễm độc hormon giáp kịch phát trong phẫu thuật.

           + Suy chức năng tuyến giáp: Suy chức năng tuyến giáp sớm xuất hiện sau mổ vài tuần. Suy chức năng tuyến giáp muộn xuất hiện sau mổ vài tháng.

           + Bệnh tái phát:  Ở những trung tâm lớn 20% các trường hợp tái phát, tỷ lệ tử vong dưới 1%.

7.4. Điều trị hỗ trợ: Bệnh nhân phải nghỉ ngơi tránh đi lại nhiều, nếu điều trị ngoại trú không được lao động nặng.

       - Giải thích cho bệnh nhân Basedow hiểu biết về bệnh của mình, nếu điều trị tích cực bệnh sẽ ổn định và tránh được các biến chứng, làm cho bệnh nhân bớt lo lắng và yên tâm điều trị.

       - Hướng dẫn người bệnh biết cách dùng thuốc theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc chuyên khoa khi về điều trị ngoại trú .

       - Hướng dẫn bệnh nhân chọn thức ăn phù hợp với bệnh tật, lao động nhẹ nhàng khi điều trị ngoại trú tại nhà.

       - Hướng dẫn cho bệnh nhân các biến chứng của bệnh để đến khám bác sỹ và được điều trị kịp thời

 

8. Chế độ dinh dưỡng:

       - Tăng cường bổ sung calo: Nên chọn các loại thực phẩm như cải bắp, súp lơ, cải lá xoăn, củ cải, cải bắp…

       - Hạn chế muối iốt và các loại thức ăn giàu iốt: Do tuyến giáp dùng iốt để sản xuất ra hoócmôn tuyến giáp nên nếu ăn nhiều iốt sẽ gây nên tình trạng thừa khiến bệnh tình càng nặng. Do vậy cần trao đổi với bác sĩ khi muốn dùng các loại muối iốt, hải sản, trứng, sữa, các loại rau câu, rong biển…

       - Hạn chế đồ uống lợi tiểu: Giữ cân nặng và khoáng chất cho người bị cường giáp là vấn đề quan trọng và tương đối vất vả. Do đó, cùng với cung cấp thêm năng lượng, người  bệnh không nên dùng đồ uống lợi tiểu như cà phê, nước có ga… để tránh sự bài tiết dinh dưỡng qua đường tiết niệu.

       - Bổ sung nhiều vi khoáng canxi, kẽm: Cường giáp khiến người ta bị cạn kiệt nguyên tố kẽm và làm thay đổi quá trình trao đổi canxi. Do đó chế độ ăn nên bổ sung thành phần dưỡng chất này như ăn thêm thịt nạc, rau dền, cải chíp, chuối, kiwi, rau chân vịt… Các loại hải sản như hàu, cua… rất giàu canxi và kẽm nhưng đồng thời lại chứa nhiều iốt, do vậy không nên dùng chúng hoặc cần có tham vấn của bác sĩ điều trị.

       - Tăng cường vitamin trợ lực: Cường giáp dễ gây nên mệt mỏi do vậy các chất chống ôxy hóa là rất cần thiết. Bổ sung các thực phẩm giàu vitamin C, E (cam, táo, cà rốt, đu đủ, xoài…) sẽ giúp chống lại các triệu chứng mệt mỏi của cường giáp.

       - Thảo dược: Hiện trên thế giới, ngoài việc dùng thuốc ức chế hoóc môn tuyến giáp, nhiều chuyên gia khuyên người bệnh nên sử dụng các loại thảo dược để ăn hoặc uống. Nghệ vàng là một trong những thực phẩm làm cho ảnh hưởng của enzym bromelain mạnh hơn tăng sức đề kháng, tăng tiêu hóa. Do vậy người bệnh nên dùng nghệ sau các bữa ăn, trung bình 500mg/ngày. Ngoài ra, chiết xuất bồ công anh cũng có tác dụng điều chỉnh chức năng gan và có lợi trong việc xoay chuyển hoóc môn tuyến giáp nên giúp hạn chế chứng cường giáp. Nên uống trà bồ công anh hai lần một ngày trong sáu tuần, ngưng một tháng rồi lặp lại.

 

9. Người bệnh hỏi- BS trả lời:

Câu hỏi: Vừa qua có một số chị em đi khám bệnh, được bác sĩ chẩn đoán là bướu cổ, có người được chẩn đoán là Basedow. Vậy nhờ bác sĩ giải thích về sự khác nhau giữa bướu cổ và Basedow? Và tại sao Basedow bị lòi mắt to như vậy?

       Bướu cổ đơn thuần: Là sự phì đại tuyến giáp nhưng không phải do viêm hay ung thư và quan trọng nhất là chức năng tuyến giáp vẫn bình thường. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do thiếu hụt I ốt trong cơ thể gây ra nhưng không phải cứ bổ sung đủ I ốt là hết bệnh. Biểu hiện của bệnh là: Tuyến giáp to hơn bình thường tùy từng mức độ của bệnh; Cảm giác nghẹt vùng cổ; Nuốt vướng; Tinh thần lo lắng; Bề mặt bướu nhẵn và đều, bướu không đau và di động khi nuốt. Bướu có thể tự khỏi; Có khi bướu tồn tại nhiều năm. Việc điều trị phụ thuộc vào loại bướu và giai đoạn phát triển. Các phương pháp điều trị là dùng thuốc nội tiết tố uống, dùng iốt phóng xạ; Phẫu thuật cắt bỏ một phần tuyến giáp.

       Basedow: Là bệnh hay gặp, bệnh thường có biểu hiện của hội chứng cường giáp: Ăn nhiều, sụt cân rất nhiều, tinh thần bất ổn, mất ngủ hoặc khó ngủ, run tay, lồi mắt…và kèm theo bướu giáp lan tỏa. Để chẩn đoán bệnh ngoài các triệu chứng lâm sàng người bệnh cần phải làm một số các xét nghiệm chuyên biệt. Basedow là bệnh rất nguy hiểm cho hệ tim mạch, nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách, bệnh nhân sẽ tử vong trong tình trạng suy tim, suy kiệt và đặc biệt là trong tình trạng cơn bão giáp, một biến chứng rất nặng của bệnh.

       Điều trị Basedow: chủ yếu vẫn là điều trị cường năng tuyến giáp bằng một trong ba phương pháp căn bản: Ðiều trị nội khoa với thuốc kháng giáp tổng hợp, điều trị bằng phẫu thuật và điều trị bằng iode đồng vị phóng xạ. Mỗi phương pháp điều trị đều có ưu và nhược điểm khác nhau. Việc lựa chọn phương pháp nào sẽ tùy thuộc vào tình hình bệnh tật, điều kiện xã hội, hoàn cảnh cụ thể của mỗi bệnh nhân cũng như kinh nghiệm của người thầy thuốc.

       Tại sao Basedow bị lồi mắt: Lồi mắt có thể xuất hiện trước, trong hoặc sau khi điều trị bệnh dù là điều trị nội khoa, Iot phóng xạ hay ngoại khoa. Đây là triệu chứng hay gặp trong bệnh Basedow (22%-80%). Thường là lồi mắt hai bên nhưng có trường hợp chỉ lồi mắt một bên. Cơ chế của triệu chứng này chủ yếu là do rối loạn chuyển hoá ở vùng sau nhãn cầu, gây phù nề, tăng sinh tổ chức liên kết lỏng lẻo và do đó làm tăng thể tích của vùng này dẫn đến lồi mắt. Đi kèm với chứng lồi mắt, bệnh nhân thường cảm thấy chói mắt, chảy nước mắt, cảm giác như có bụi bay vào mắt hoặc rất nóng rát. Bên mắt lồi thường long lanh hơn bình thường, ít chớp mắt, người bệnh thường không nhắm kín mắt khi ngủ. Khi bị lồi quá mức, mắt sẽ không nhắm kín, mi hở nên giác mạc dễ viêm loét và tổn thương. Việc điều trị sớm rất hiệu quả, bệnh nhân sẽ hết chứng lồi mắt.

Câu hỏi:Vỏ quả chanh có tác dụng trong việc điều trị basedow

       Vỏ quả chanh còn có tác dụng đối với người: Bị bướu bất cứ nới nào (bang quang hay thận)

       Thì kết hợp vỏ quả chanh với lá doi ( lá dòi) cho kết quả tốt

       Trong khi uống phải kiêng: thịt bò, cá biển, thịt gà thịt nướng

       Trường hợp u xơ, u nang, bướu cổ sau phẫu thuật hay tái phát nên uống nước vỏ quả chanh tươi mỗi tháng 3  ngày và tuyệt đối không ăn thịt nướng, đồ nướng (kể cả người khỏe) , nên uống nước vỏ quả chanh dài dài.