1.   Đại cương, vị trí, thành phần hóa học:

- Phần lớn sỏi niệu đạo là từ bàng quang và phần tiết niệu trên chạy xuống rồi dừng lại ở niệu đạo.

- Sỏi niệu đạo hay gặp ở nam giới, 1/3 sỏi nằm ở niệu đạo sau còn 2/3 nằm ở niệu đạo trước với những vị trí sau: xoang tuyến tiền liệt, hành niệu đạo gốc dương vật, hố thuyền niệu đạo. Sỏi ở đây có thành phần hóa học như sỏi ở thận, ở bàng quang, chủ yếu là oxalate, urat, phosphate. Sỏi có thể được hình thành tại niệu đạo do túi thừa ở gốc dương vật hoặc do chít hẹp.

- Trong trường hợp này thành phần hóa học của sỏi là phosphate và amomi magie phosphate (struvit). Ở nữ giới thì sỏi niệu đạo chủ yếu là do túi thừa.

2.   Triệu chứng lâm sàng:

- Khó đái, đái buốt, đái ra máu đầu bãi.

- Thấy khó đái, tắc đái một cách đột ngột, có khi bí đái hoàn toàn.

- Cố rặn đái cũng chỉ ra vài giọt nước tiểu màu đỏ.

- Kèm theo đó là cơn đau quặn vùng hạ vị do bí đái hoàn toàn.

- Nhưng nếu sỏi ở trong túi thừa niệu đạo thì không gây rối loạn tiểu tiện, mặc dầu sỏi phát triển khá to.

- Nhưng các triệu chứng viêm nhiễm bao giờ cũng xuất hiện: đái đục, viêm niệu đạo.

3.   Chẩn đoán:

- Có thể sờ thấy hoặc thăm trực tràng cũng có thể phát hiện được.

- Nếu sỏi nằm ở niệu đạo sau, khi thăm khám bằng ống thông kim loại có thể có dấu hiệu chạm phải sỏi.

- Nếu gặp khó khăn trong chẩn đoán (như trong trường hợp sỏi trong hẹp niệu đạo, sỏi trong túi thừa có lỗ thông nhỏ) thì chụp X quang là tốt hơn cả.

4.   Biến chứng:

- Có thể dẫn đến suy thận, viêm thận, gây rối loạn hệ tiết niệu và thậm chí dẫn đến tử vong.

- Các cơn đau do sỏi niệu gây ra còn làm giảm năng suất lao động và chất lượng cuộc sống của người bệnh.

5.   Điều trị:

- Nếu sỏi kẹt lại ở niệu đạo gây bí đái thì phải mổ cấp cứu

- Nếu sỏi ở hố thuyền hay gần đấy thì rạch lỗ sáo lấy sỏi trực tiếp.

- Các loại sỏi khác, nhất là từ gốc dương vật trở lên thì nên đẩy sỏi vào trong bàng quang dưới áp lực nước, rồi tán sỏi trong bàng quang. Nếu không có máy tán sỏi thì mổ bàng quang lấy sỏi.

- Đối với loại sỏi hình thành do nguyên nhân tại chỗ (hẹp, rò, dị vật, túi thừa) cần xử trí nguyên nhân và lấy sỏi luôn. Nếu sỏi cố định ở một nơi nào đó thì có thể rạch thành trên của niệu đạo sau khi bóc tách niệu đạo ra khỏi vật hang để lấy sỏi mà không sợ bị rò (phương pháp Monseur).

6.   Phòng ngừa:

- Phải uống đủ nước (từ 1,5 – 2 lít nước/ngày). Những người phải dùng thuốc đường uống càng cần phải uống đủ nước.

- Phát hiện và điều trị sớm các nguyên nhân khác (ngoài sỏi) gây viêm nhiễm đường tiểu và ứ đọng nước tiểu. Khi thấy có các biểu hiện đái buốt, đái rắt cần phải đi khám để phát hiện bệnh kịp thời.