I. 12 Bệnh lý:    

 

           Tiến sĩ - bác sĩ Ngô Minh Xuân, Trưởng khoa Sơ sinh, Bệnh viện Từ Dũ cho biết, trẻ sinh non thường gặp những bệnh lý cơ bản sau đây:


 

1. Ngạt

 

           Ngạt ở trẻ sinh non có thể xảy ra trong giai đoạn chu sinh (trước sinh) và giai đoạn sơ sinh (khoảng 4 tuần sau khi chào đời). Ngạt có thể khiến bé tử vong nếu không được bác sĩ chẩn đoán trước tình hình và xử trí kịp thời.


 

2. Rối loạn thân nhiệt


 

           Triệu chứng này thường thấy ở trẻ sinh nhẹ cân. Hiện tượng thường gặp nhất là hạ thân nhiệt. Biến chứng này dễ cướp đi sinh mạng của bé.


 

3. Suy hô hấp

 

           Đây là nguyên nhân chủ yếu gây tử vong ở trẻ sinh non. Trẻ càng sinh non tháng càng dễ bị suy hô hấp. Nổi bật nhất của suy hô hấp là bệnh màng trong. Bệnh này do cơ thể bé sinh non thiếu Surfactant - chất có chức năng giữ phế quản phổi không bị xẹp khi thở ra.

 

4. Nhiễm trùng


 

           Rất dễ xảy ra do trẻ sinh non vốn có sức đề kháng yếu. Sản phụ sinh non không rõ nguyên nhân, mẹ bị nhiễm trùng niệu sinh dục, vỡ ối sớm, mẹ có sốt quanh thời gian chuyển dạ... đều có thể là nguyên nhân khiến bé nhiễm trùng khi chào đời. Những bé phải hồi sức sau sinh, bé bị hít phải nước ối cũng rất dễ bị nhiễm trùng. Bệnh khiến bé sốc dẫn đến tử vong.


 

5. Vàng da


 

           Bệnh rất nguy hiểm, diễn tiến nhanh, nếu không phát hiện và điều trị kịp sẽ gây nhiễm độc thần kinh khiến trẻ tử vong hoặc để lại di chứng suốt đời. Bệnh do gan của trẻ sinh non chưa phát triển đủ để thực hiện chức năng chuyển hóa. Bé có trọng lượng dưới 1,5kg lúc sinh thì tỷ lệ vàng da là 100%, cần được điều trị sớm bằng đèn chiếu. Phụ huynh cũng phải tuân thủ theo hướng dẫn của bác sĩ để tránh biến chứng xảy ra cho bé.


 

6. Rối loạn tiêu hóa


 

           Biểu hiện bằng triệu chứng trẻ thường xuyên ói, nôn trớ, tiêu chảy hoặc trướng bụng. Biến chứng nguy hiểm nhất là viêm ruột hoại tử. Ruột của bé không được đủ máu nuôi sẽ mỏng dần rồi hoại tử hoặc thủng. Do đó, khi thấy bé trướng bụng, ói dịch xanh thì phải đến bác sĩ ngay.


 

7. Rối loạn huyết học


 

           Trẻ sinh non nhẹ cân dễ bị xuất huyết, đặc biệt là thiếu yếu tố đông máu do thiếu vitamin K. Trẻ cũng dễ thiếu máu do tủy xương hoạt động yếu; yếu tố hấp thu máy kém hoặc phải lấy nhiều máu để làm xét nghiệm. Phụ huynh cần theo dõi sắc diện của trẻ, nếu nhìn thấy Da kém hồng, chậm lên cân thì nên đi khám.


 

8. Bệnh lý thần kinh


 

           Đây là bệnh ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần và cả thể chất của trẻ. Những bé mắc bệnh thường gây biểu hiện co giật chi, trợn mắt, quẹo cổ. Phụ huynh cần chú ý yếu tố tâm thần vận động và đo vòng đầu của bé để sớm can thiệp nếu bệnh xảy ra.


 

9. Bệnh lý võng mạc

 

           Đây được xem là bệnh lý đặc biệt quan trọng cần được theo dõi sát đối với trẻ cân nặng 1,5kg khi sinh hoặc sinh non dưới 30 tuần tuổi. Một số trẻ nặng hơn 1,5kg vẫn có thể mắc bệnh nếu phải hồi sức sau sinh. Bệnh có thể khiến trẻ bị mù nếu phụ huynh không đưa bé đi khám đúng lịch hẹn của bác sĩ.


 

10. Rối loạn chuyển hóa


 

           Trẻ có thể bị hạ đường huyết khiến tím tái. Bệnh cũng gây thiếu ôxy não để lại di chứng cho bé. Khi thấy trẻ bú kém, nôn trớ nhiều, phụ huynh nên đưa đi khám để được chẩn đoán và điều trị.


 

11. Nhiễm trùng da


 

           Thường thấy nhất là chứng viêm da, hăm đỏ da, nhiễm trùng có mủ, nhiễm trùng rốn. Bệnh có thể khiến trẻ bị nhiễm trùng máu. Phụ huynh nếu thấy hiện tượng bé đỏ rốn hoặc quanh chân rốn, rỉ nước có mùi thì nên khám ngay. Ngoài vệ sinh rốn, bố mẹ cũng nên vệ sinh vùng bẹn. Cần lau sạch và giữ khô ráo vùng kín sau mỗi lần bé đi vệ sinh.

 

12. Chậm tăng trưởng thể chất


 

           Bệnh thường thấy do sữa mẹ không đủ cho trẻ bú hoặc kém, bé không hấp thu tốt chất dinh dưỡng. Bệnh dễ khiến bé bị suy còi, không phát triển chiều cao.

 

        Với những trường hợp này, phụ huynh cần đưa con đi khám để được theo dõi cân nặng, vòng đầu, chiều cao và tư vấn dinh dưỡng hợp lý.

 

II. Các vấn đề cần theo dõi ở trẻ sơ sinh:

 

1.  Theo dõi nhiệt độ:

 

           Đo bằng nhiệt kế trong những ngày đầu, mỗi 6 - 8 giờ hoặc khi nhiệt độ phòng thay đổi. Sau đó đo khi nghi ngờ nhiệt độ bé thay đổi. Bình thường nhiệt độ cơ thể có thể dao động từ 36 đến 370C.

 

        Cách đo nhiệt độ phổ biến tại nhà là đo nhiệt độ ở nách trẻ

        Bà mẹ chú ý rửa tay trước khi đo nhiệt độ cho bé.

           - Kiểm tra nhiệt kế trước khi đo:

           Cầm chặt nhiệt kế vẫy mạnh đến khi thấy vạch thủy ngân chạy xuống dưới mức 35 độ C

        Đặt nhiệt kế sâu vào nách trẻ, giữ tay trẻ sát vào thân liên tục trong ít nhất 3 phút. Chú ý, đầu nhiệt kế phải tiếp xúc với da, không tiếp xúc với áo.

        Chờ cho đến khi có thể đọc được số. Đối với nhiệt kế thủy ngân thường có kết quả sau ít nhất 3 phút. Đối với nhiệt kế điện tử, sau khi đo xong, nhiệt kế có tiếng peep báo hiệu là có thể đọc được kết quả.

           - Đọc và xử trí kết quả:

           Dưới 36 độ C

                    Nên ấp bé trong tư thế kangaroo liên tục

                    Nếu cần, đắp thêm khăn cho bé.

                    Sau 20 phút nên đo lại nhiệt độ, nếu thân nhiệt của trẻ còn thấp thì phải tư vấn nhân viên y tế

           Trên 37 độ C

                    Nên tạo nhiệt độ phòng mát mẻ (bật quạt, mở cửa sổ, cửa lớn, có thể dùng máy lạnh nếu có)

                    Tránh đắp thêm khăn cho bé

                    Nếu đã làm như trên mà nhiệt độ vẫn chưa giảm đến mức mong muốn thì vẫn ấp bé ở tư thế kangaroo, nhưng để bé ra ngoài áo của người ấp nhằm giảm tiếp xúc da kề da

           Trên 38 độ C:

                    Nên báo nhân viên y tế nếu bé còn trong viện, nếu bé ở nhà nên đưa bé đến khám tại cơ sở y tế gần nhất.

 

2. Theo dõi nhịp thở và cơn ngừng thở

 

           Bình thường trẻ sơ sinh ở trạng thái yên tĩnh thở 30 - 60 lần /phút, cơn ngừng thở >15 giây là bất thường.

 

3. Theo dõi màu sắc da: hồng, vàng hay tím tái

 

           + Tím nhẹ: bé có biểu hiện thay đổi màu da quanh hốc mắt hoặc quanh môi: kiểm tra lại tư thế của bé có bị gập cổ, gập bụng không, đầu bé có được nâng cao chưa, có nghẹt đàm hay sữa trong miệng không, nếu có phải lấy sạch phần dịch trong miệng cho bé, xem bụng bé có căng trướng không?

        + Tím nặng: thay đổi màu da cả mặt và chân tay: xử trí như tình huống trẻ sặc sữa (xem phần cấp cứu sặc sữa)


 

4. Theo dõi phân:

 

           Phân có màu hay có mùi gì khác thường không, số lần? Bình thường bé đi tiêu 1- 2 lần, đôi khi bé có thể đi 5 - 7 lần trong ngày.

           Tính chất phân: vàng sệt, có lẫn nước, đôi khi có mùi hơi chua khi trẻ bú mẹ. Số lượng phân hàng ngày nhiều hay ít, nếu số lần và số lượng phân giảm so với những ngày trước phải massage bụng cho bé trước mỗi cữ bú để tránh tình trạng tắc phân trong ruột rất nguy hiểm. Nếu trẻ có dấu hiệu lừ đừ hoặc ăn ít hơn bình thường phải báo cho nhân viên y tế.

 

5. Theo dõi nước tiểu:

 

           Nước tiểu thường trong hay vàng nhạt, bé tiểu 8 - 10 lần trong ngày.

 

6. Theo dõi cân nặng:

 

           Hằng tuần ghi vào bảng theo dõi cân nặng để nhận biết trẻ tăng cân hay giảm cân.

 

7. Theo dõi chiều dài, vòng đầu mỗi tuần

 

           Chiều dài: tăng 0,7cm /tuần, vòng đầu tăng 0,5cm/tuần

III. Trẻ sinh non dễ bị thiếu những chất dinh dưỡng nào?

Canxi

           Hàm lượng canxi, phốt-pho trong sữa mẹ ở trẻ sinh thiếu tháng ít, cho dù đủ sữa cho con bú thì lượng hấp thụ canxi cũng chỉ chiếm 1/3 – ½ thời kỳ cuối của thai nhi. Trong khi đó lượng tích lũy sắt, phốt-pho cuối thai kỳ chiếm 80% tổng lượng tích lũy, cộng thêm dịch tiết acid không đủ, lượng hấp thụ vitamin D tan trong chất béo quá thấp, khiến trẻ sinh thiếu tháng có tuổi thai càng nhỏ thì càng dễ bị thiếu sắt, hơn nữa nếu tốc độ tăng trưởng của trẻ sinh thiếu tháng nhanh hơn trẻ sinh đủ tháng thì chúng lại dễ mắc bệnh còi xương do thiếu canxi.

 

Thiếu sắt

           Thông thường, việc tái hấp thụ sắt diễn ra khi thai gần đủ tháng, do đó những trẻ sinh thiếu tháng thường không dự trù đủ lượng sắt cần thiết.

 

Thiếu kẽm

           Với những trẻ sinh đủ tháng giá trị kẽm trong máu thường cao, do đó rất ít trẻ bị thiếu kẽm. Còn những trẻ sinh thiếu tháng do tuổi thai chưa đủ, dự trữ kẽm ít, kết hợp với hàm lượng kẽm trong sữa mẹ ở trẻ sinh non không thể đáp ứng nhu cầu tăng trưởng nên rất dễ bị thiếu kẽm.

 

Thiếu vitamin

           Hàm lượng vitamin nhóm E, C, B và axit folic trong sữa mẹ không đủ, nếu tốc độ tăng trưởng của trẻ sinh non nhanh thì lượng nhu cầu đối với những vitamin này là tương đối lớn. Nếu sữa mẹ không thể đáp ứng hoàn toàn nhu cầu của trẻ sinh non đối với những nguyên tố vi lượng và vitamin này thì cần bổ sung thích hợp.

 

2. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sinh thiếu tháng:

 

           Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên rằng, sữa mẹ là dinh dưỡng hoàn hảo và tốt nhất dành cho cả trẻ sinh đủ tháng và trẻ sinh non bởi thành phần dưỡng chất rất dễ tiêu hóa, chứa nhiều yếu tố miễn dịch giúp trẻ chống chọi với các bệnh nhiễm trùng.

           Nếu phải dùng sữa ngoài thì phải dùng sữa dành riêng cho trẻ non tháng. Do trẻ sinh non có nguy cơ bị viêm ruột cao, thành ruột dễ tổn thương nếu thành phần dưỡng chất có áp lực thẩm thấu cao nên việc giảm hàm lượng đường lactose là cần thiết và thay vào đó là thành phần đường maltodextrin giúp giảm áp lực thẩm thấu lên thành ruột. Do cơ thể trẻ sinh non nghèo dự trữ chất béo DHA và ARA trong khi nhu cầu về hai chất này lại cao cho phát triển thị giác và trí não, việc bổ sung DHA và ARA trong sữa công thức cho trẻ sinh non là rất quan trọng. Ngoài ra, sự có mặt của các vitamin và khoáng chất, ví dụ như sắt là rất cần thiết cho trẻ.

 

Thời gian cho ăn

           Đối với trẻ bị sinh non thì việc cho ăn là quan trọng và cần chú ý nhiều hơn so với trẻ sinh đủ tháng. Sau 2 – 4 giờ trẻ ra đời, người lớn đã có thể cho trẻ ăn. Nếu trẻ ăn và bị nôn hoặc trớ thì sau 6 đến 8 giờ, người lớn nên thay đổi cách cho bé ăn.Trẻ sinh ra, nếu khi cho ăn có dấu hiệu bị trớ nhiều, da bầm tím và thở khó khăn thì cần bổ sung cho trẻ truyền dung dịch glucose.

 

Khoảng thời gian cho ăn

           Lượng thức ăn cần phải được căn cứ trên trọng lượng cơ thể của trẻ. Trẻ nặng dưới 1 kg thì 1 giờ cho ăn 1 lần. Trẻ nặng từ 1 – 1,5 kg thì cách 1,5 tiếng cho ăn 1 lần. Trẻ nặng từ 1,5 – 2 kg thì cách khoảng 2h cho ăn 1 lần. Đối với trẻ nặng từ 2 kg – 2,5 kg thì cách 3 tiếng cho ăn 1 lần. Thời gian cho ăn này tính cả ban đêm.

 

Phương pháp cho ăn

           Trẻ sinh non nên được bú sữa mẹ là tốt nhất. Nếu sữa của người mẹ chưa về thì có thể cho trẻ bú bình. Đối với bình sữa, các tia cần phải được thông để trẻ bú được dễ dàng. Nếu kích cỡ tia sữa to quá, trẻ không bú kịp sẽ dễ bị sặc, còn nếu tia quá nhỏ lại khiến trẻ bú rất khó khăn. Vì vậy, nên chú ý chọn loại bình có tia sữa phù hợp với trẻ.

           Với một số trường hợp trẻ bị nhẹ cân do sinh quá sớm, không thể ăn bằng cách bú mẹ thì có thể dùng ống để cho ăn. Tuy nhiên, cách làm này phải được sự hướng dẫn của các bác sĩ, tuyệt đối không tự ý cho trẻ ăn vì như vậy có thể khiến trẻ bị tổn thương thực quản gây nguy hiểm đến tính mạng.

           Đối với trẻ sinh non ở 32 tuần tuổi và có trọng lượng là 1,5 kg, nguồn sữa mẹ có chứa nhiều loại axit amin và chất béo, trong đó có 10% đường, viatamin và các chất điện giải, hàng ngày chỉ nên cho trẻ bú từ 65 – 100 ml/ngày mà thôi. Những trẻ có đường tiêu hóa không tốt hoặc trẻ bị bệnh đường hô hấp, nhẹ cân có thể dùng cách truyền dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch.

           Mặc dù trẻ sinh non cần đầy đủ chất dinh dưỡng nhưng người lớn cũng cần chú ý là không nên cho bé ăn quá nhiều, cần nhờ đến sự tư vấn khoa học của các bác sĩ để đảm bảo sức khỏe cho trẻ.

           Thông thường người ta cho rằng trẻ sinh thiếu tháng có nhu cầu nhiệt lượng cao hơn trẻ đủ tháng, lượng calo cần thiết hàng ngày cho mỗi kg trọng lượng cơ lớn hơn trẻ thành thục, nhưng khả năng hấp thụ lại thấp hơn những trẻ đủ tháng, do đó việc cung cấp nhiệt năng nên bắt đầu ở mức tương đối thấp là thích hợp. Tùy tình hình rồi tăng dần lên.

 

Nhu cầu dinh dưỡng như sau:

 

Protein:

           Lượng protein mà trẻ thành thục hấp thu được từ sữa mẹ chiếm 6%-7% tổng nhiệt lượng, lượng protein mà trẻ sinh thiếu tháng hấp thu chiếm 10,2% tổng nhiệt lượng, cao hơn trẻ bình thường.

 

Acid amin

           Trẻ bình thường cần 9 loại axit amin, trẻ thiếu tháng cần 11 loại, bởi chúng thiếu men chuyển hóa có liên quan, không thể chuyển hóa methionine (giúp phân hủy và đốt cháy chất béo, tăng thêm lượng testosterone sinh dục nam) sang cystine, phelynanaline (có chức năng bồi bổ não, tăng cường trí nhớ, và tác động trực tiếp đến mọi hoạt động của não) sang tyrosine, bởi cystine và tyrosine là những axit amin thiết yếu, bắt buộc phải được hấp thụ từ thức ăn.

 

Muối vô cơ

           Trẻ thiếu tháng cần nhiều muối vô cơ hơn trẻ trưởng thành. Ví dụ: Cần phải tăng cường cả canxi, kẽm, sắt, không đủ tháng, cơ thể trẻ sinh non sẽ thiếu muối vô cơ.

 

Vitamin:

           Trẻ sinh thiếu tháng thiếu vitamin E dễ bị thiếu máu, tỉ lệ hấp thụ chất béo của chúng cũng không bằng trẻ thành thục nên có thể thiếu các loại vitamin hòa tan trong chất béo và một số chất dinh dưỡng khác. Thực phẩm công thức tốt nhất dành cho trẻ thiếu tháng vẫn là sữa mẹ. Tóm lại, dinh dưỡng ở trẻ sinh non mỗi bé một khác, do tình hình khác nhau, cơ thể khác nhau, nên trong vấn đề dinh dưỡng cần kết hợp xem xét cẩn thận tình hình cá nhân.

 

IV. Dinh dưỡng cho trẻ sinh non:

 

1. Dinh dưỡng cho trẻ được chăm sóc theo phương pháp kangaroo:(Địu con phía trước ngực theo kiểu kangaroo là một trong những phương pháp tốt để chăm sóc trẻ sơ sinh, nhất là đối với những bé sinh non).

 

           Sữa mẹ luôn là thức ăn hoàn hảo nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhất là đối với trẻ sinh nhẹ cân và trẻ có bệnh lý. Chưa có một sữa công thức nào có thể đạt được các dưỡng chất có khả năng đề kháng như sữa mẹ.

           Đối với trẻ sinh non khả năng bú, nuốt và thở của trẻ chưa hoàn chỉnh nên trẻ bú không đạt hiệu quả hoàn toàn được. Do đó, sau khi trẻ bú mẹ cần cho ăn thêm bằng ống tiêm nhỏ giọt hoặc muỗng (thìa).

           Đối với trẻ < 32 tuần chưa có khả năng bú, nuốt và thở tốt có thể cho ăn bằng ống thông dạ dày.

           Đối với trẻ kangaroo nên cho ăn cách khoảng 1tiếng rưỡi đến 2 tiếng đồng hồ một lần và khoảng cách này sẽ được tăng dần khi trẻ lớn dần

                       + Trẻ 1,5kilo cách 1,5 tiếng.

                       + Trẻ 2 kilo cách 2 tiếng.

                       + Trẻ 3 kilo cách 3 tiếng.

           Những trường hợp mẹ không đủ sữa nên cho trẻ ăn thêm sữa bột dành cho trẻ non tháng, lượng sữa chỉ nên cho khoảng 1/3 nhu cầu hàng ngày của trẻ và giảm dần đến khi mẹ đủ sữa hoàn toàn (ví dụ trẻ ăn 150ml sữa chỉ nên cho 50ml sữa bột).

           Không nên cho trẻ bú bình vì trẻ sẽ quen với bình sữa và từ chối bú mẹ, điều này sẽ làm cho việc nuôi con bằng sữa mẹ không thành công.

           Khi trẻ được tròn 4 tháng tuổi sinh nên tập cho trẻ ăn dặm với nguyên tắc: từ ít đến nhiều, từ mềm đến cứng, từ loãng đến đặc và theo dõi sự tiêu hóa của trẻ.


 

2. Cách tính lượng sữa cho trẻ ăn hàng ngày:

 

           Ngày đầu tiên sau sinh: 70 - 80 ml cho 1 kilo cân nặng lúc sinh, sau đó tăng 10ml mỗi ngày cho1kg cân nặng nếu trẻ dung nạp sữa tốt (lưu ý chỉ tăng tối đa đến 200ml, không tăng thêm nữa).

Ví dụ:

        Trẻ sinh 1500gr thì ngày đầu tiên sau sinh ta cho 80 x 1,5kg = 120ml, 120ml chia cho 12 cữ (tức cho ăn mỗi 2 giờ một lần) = 10ml cho mỗi cữ.

 

        Khi trẻ được 8 ngày tuổi sẽ có lượng sữa tăng thêm là 70ml/kilo: (70ml thêm + 80ml ngày đầu = 150ml), ta tính theo công thức sau:

                    - Nếu 2 tiếng cho ăn một lần: (150ml x 1,5kg) / 12 cữ = 18ml(225 chia cho 12)

                       - Nếu 1,5 tiếng cho ăn một lần: (150ml x 1,5kg) / 16 cữ = 14ml

 

3. Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ

 

3.1 Lợi ích đối với con:

 

           - Nhiều chất dinh dưỡng hoàn hảo.

        - Các thành phần trong sữa mẹ được hấp thụ dễ dàng, sử dụng có hiệu quả cao.

        - Bảo vệ trẻ chống nhiễm khuẩn.

        - Dễ tiêu hóa, ít gây táo bón.

        - Tăng cường sự gắn bó sâu sắc giữa mẹ và con, giúp trẻ phát triển tâm sinh lý tốt.

 

3.2 Lợi ích đối với mẹ:

           - Giúp mẹ chậm có thai.

        - Bảo vệ sức khỏe cho mẹ.

        - Tiết kiệm được tiền mua sữa.

 

3.3 Những nguy hiểm của việc nuôi con bằng sữa nhân tạo (sữa bột)

           - Ngăn cản sự gắn bó mẹ - con

        - Dễ bị tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp.

        - Dễ mắc chứng còi xương

        - Suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A.

        - Dễ bị dị ứng và không dung nạp sữa.

        - Tăng nguy cơ mắc một số bệnh mãn tính.

        - Tăng cân quá mức.

        - Điểm thử nghiệm chỉ số thông minh thấp

        - Mẹ có thể sớm có thai trở lại.

        - Mẹ tăng nguy cơ mắc chứng thiếu máu, ung thư vú và buồng trứng

 

4. Tư thế cho trẻ bú

           - Giữ đầu và thân trẻ phải cùng nằm trên một đường thẳng

        - Để mặt trẻ quay vào vú mẹ, mũi trẻ đối diện với núm vú.

        - Ôm con sát người mẹ.

        - Để đầu vú mẹ chạm vào môi con. Cho trẻ ngửi, liếm sữa mẹ.

        - Chờ trẻ mở rộng môi, nhanh chóng đưa sát miệng con vào vú mẹ sao cho môi dưới của trẻ ngậm khít dưới núm vú mẹ, cằm trẻ phải chạm vào vú mẹ.

 

5. Cách cho ăn bằng bơm tiêm

           - Tư thế mẹ ngồi, một chân nâng cao hơn chân kia làm điểm tựa.

           - Bế em bé, một tay giữ phần lưng và cổ, tạo tư thế dốc cao 30 độ.

           - Tư thế bé cổ ngửa, đầu vào thân nghiêng sang bên.

           - Dùng bơm tiêm 1cc bơm từ từ sữa vào một bên má trẻ để trẻ nuốt dần.

 

6. Cách cho bé uống thuốc   

 

6.1 Thuốc giọt: Nên pha loãng 1 giọt thuốc với 2 - 3 giọt nước:

 

           Bé đang sử dụng ống thông dạ dày thì dùng ống tiêm bơm qua thông dạ dày.

        Bé không còn sử dụng ống thông dạ dày thì bơm nhỏ giọt vào miệng như bơm sữa.

        Ngày đầu khi bé chưa quen uống thuốc chúng ta nên cho trẻ uống 1 giọt và sau đó tăng mỗi ngày 1 giọt đến bằng liều đã ghi trong toa (thí dụ : toa thuốc ghi ngày uống 2 lần, lần 5 giọt thì ta cho uống ngày đầu 1 giọt, ngày thứ hai 2 giọt, ngày tiếp 3 giọt, tăng đến 5 giọt là dừng). Cách uống từng giọt này nhằm tránh gây cho trẻ bị sặc thuốc rất nguy hiểm. Nếu bé không thích uống thì ngưng lại.

        Nên cho trẻ uống thuốc đúng giờ.

 

6. 2 Thuốc viên nén: thí dụ như calcium D (màu xanh) nên bẻ 1 phần tư viên thuốc cho vào nước ngâm (nhớ không nghiền nát thuốc) đến khi thuốc tan hết (mềm nhũn trong nước) thì cho bé uống, có thể cho thêm ít đường. Cũng bơm thuốc vào ống thông hoặc vào miệng giống như thuốc giọt.


 

6.3 Thuốc dầu cá như vitamin AD, E:

        Dùng kim tiêm đâm một lỗ nhỏ trên đầu viên thuốc rồi bóp 1 giọt nhỏ vào miệng trẻ kể cả trẻ có ống thông dạ dày và giữ viên thuốc đã dùng rồi cho bé uống tiếp 2 ngày nữa hoặc mẹ uống phần còn lại cũng được.

 

Lưu ý: khi bé đang có ống thông dạ dày thì không được bơm sữa hoặc thuốc vào miệng bé, chỉ trừ viên dầu cá vì lượng thuốc quá ít không thể bơm qua ống thông được.