I. Lồng ruột ở trẻ còn bú

 

1. Khái niệm:

 

- Lồng ruột là một bệnh lý cấp cứu ngoại khoa rất thường gặp ở trẻ em. Bệnh lý diễn biến do một đoạn ruột lộn lại và chui vào lòng của đoạn ruột kế cận.

- Lồng ruột có thể gặp bất cứ ở lứa tuổi nào, nhưng gặp nhiều nhất là ở lứa tuổi 4 - 9 tháng.

 

2. Nguyên nhân:

 

Hiện nay nguyên nhân gây lồng ruột cấp tính ở trẻ em vẫn chưa được hiểu biết chắc chắn. Tuy nhiên vẫn có một số cách giải thích:

 

           - Do sự mất cân đối nghiêm trọng giữa kích thước của hồi tràng và van hồi manh tràng, do đó lồng ruột dễ xuất hiện.

           - Viêm hạch bạch huyết mạc treo.

           - Nhiễm trùng virut

 

3. Triệu chứng:

 

- Đau bụng: đau bụng là biểu hiện nổi bật nhất, thể hiện điển hình là: cơn đau bụng đột ngột, dữ dội, trẻ ưỡn người, xoắn vặn, ban đêm cơn đau đánh thức trẻ dậy, trong khi ban ngày làm trẻ phải ngừng mọi hoạt động bình thường (bỏ chơi, bỏ bú), cơn đau mất đi đột ngột cũng như lúc xuất hiện, mỗi cơn đau kéo dài 5 -15 phút. Sau cơn đau trẻ có thể lại tiếp tục bú hoặc chơi nhưng các triệu chứng lại tái diễn sau giây lát.

- Nôn ra thức ăn: xuất hiện từ cơn đau đầu tiên ở hầu hết trẻ nhỏ, nôn ra dịch xanh hoặc vàng xuất hiện ở giai đoạn muộn.

- Ỉa ra máu: (chiếm 95%) đó là dấu hiệu ít nhiều đã muôn, vì vậy không nên chờ đợi để xác nhận chẩn đoán. ỉa ra máu xuất hiện có thể ngay từ cơn đau đầu tiên (thường là lồng chặt, khó tháo) hoặc có thể xuất hiện muộn sau 24 giờ. Đâ số các trường hợp máu lẫn chất nhầy, có thể đỏ hoặc nâu và cũng có thể có vài giọt máu tươi chảy ra hậu môn. Trong nhiều trường hợp máu chỉ được phát hiện khi thăm trực tràng bằng ngón tay.

- Đại đa số các trường hợp lồng ruột có bí trung đại tiện (vì khối lồng gây tắc hoàn toàn). Tuy nhiên đôi khi ruột không tắc hoàn toàn bệnh nhân vẫn tiếp tục đại tiện được. Đây là tình huống dễ làm cho chẩn đoán nhầm, nhất là có đến 7% số bệnh nhân bị ỉa chảy sau khi lồng ruột xuất hiện.

- Bệnh nhân thường mệt lả, ít hoạt động. Nhiệt độ có thể tăng cao.

 

4. Chẩn đoán

 

4.1 Chẩn đoán xác định

 

Dựa vào triệu chứng của trẻ, đồng thời làm các xét nghiệm xác định sau:

- Xét nghiệm máu, nước tiểu và xét nghiệm phân, trong đó kiểm tra máu trong phân.

- Siêu âm hoặc chụp ảnh bụng.

 

4.2 Chẩn đoán phân biệt với các bệnh:

 

- Viêm ruột thừa cấp, viêm dạ dày cấp.

- Lỵ cấp (trẻ còn bú ít bị).

- Polip trực tràng, túi thừa Meckel, u nang túi mật.

- Phân biệt với các nguyên nhân đi ngoài ra máu khác.

 

5. Điều trị:

 

5.1 Tháo lồng bằng Baryt hoặc bằng khí

 

Ngày nay việc tháo lồng bằng khí đang được sử dụng phổ biến thay cho tháo lồng bằng Baryt nếu không có chống chỉ định.

 

5.2 Điều trị bằng phẫu thuật:

 

- Chỉ định: Khi lồng ruột có chống chỉ định tháo lồng bằng khí hoặc khi đã tháo lồng bằng khí không có kết qủa.

- Tử vong sau mổ lồng ruột giảm đáng kể cùng với thời gian. Nguyên nhân tử vong sau mổ chủ yếu là viêm phổi và sốt cao co giật.

 

II. Lồng ruột ở trẻ lớn

 

1. Khái niệm:

- Lồng ruột là một bệnh lý cấp cứu ngoại khoa rất thường gặp ở trẻ em. Bệnh lý diễn biến do một đoạn ruột lộn lại và chui vào lòng của đoạn ruột kế cận.

- Nếu lồng ruột ở trẻ còn bú là hình thái cấp tính, diễn biến rất nhanh thì trái lại lồng ruột ở trẻ lớn chủ yếu là hình thái bán cấp hoặc mãn tính, triệu chứng không điển hình nên dễ chẩn đoán muộn.

2. Nguyên nhân:

Đa số lồng ruột ở trẻ lớn có nguyên nhân thực thể:

           - Manh tràng và một phần đại tràng phải di động.

           - Pô líp hoặc u ruột non hoặc đại tràng.

           - Túi bịt Meckel còn.

3. Triệu chứng:

- Đau: đau không dữ dội như ở trẻ nhỏ.

- Nôn: hay gặp.

- Ỉa máu: tỷ lệ không cao (khác với lồng ruột ở trẻ nhỏ), (tỷ lệ khoảng 44%).

- Sờ nắn: thấy có khổi lồng (tỷ lệ khoảng 89%).

Nói chung: triệu chứng đau bụng và khối lồng xuất hiện từng đợt. Bệnh nhân đau bụng có thể 1 - 2 ngày, sau lại hết đau, khối lồng biến mất. Sau những khoảng thời gian khác nhau, đau bụng và khối lồng lại tái xuất hiện. ít khi bệnh nhân có biểu hiện tắc ruột hoàn toàn.

4. Chẩn đoán

Trong đa số các trường hợp lồng ruột có thể chẩn đoán được dựa vào lâm sàng (đau bụng - khối lồng). Nếu không sờ thấy khối lồng nên chụp đại tràng có bơm thuốc cản quang hoặc bơm khí hoặc siêu âm để xác định chẩn đoán.

Cần chẩn đoán phân biệt với tắc ruột do giun- một bệnh phổ biến ở nước ta: (khối lồng khi sờ được thường nhẵn và nằm dọc khung đại tràng).

5. Điều trị:

Lồng ruột ở trẻ lớn đa số có nguyên nhân thực thể, dễ tái phát. Vì vậy điều trị bằng phẫu thuật khi mổ phải chú ý tìm nguyên nhân và giải quyết:

           - Cắt túi thừa Meckel.

           - Cắt Polip.

           - Nếu manh tràng di động: Nên cắt ruột thừa và cố định manh tràng để tránh tái phát.

6. Phòng bệnh:

Hiện vẫn chưa xác định chính xác được nguyên nhân gây bệnh lồng ruột, do vậy cũng chưa có cách phòng ngừa hữu hiệu. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy do chế độ ăn dặm, thay đổi sữa đột ngột đã làm nhu động ruột của trẻ thay đổi dễ gây bệnh lồng ruột.

Để phòng bệnh, khi cho trẻ ăn dặm hay khi chuyển đổi sữa theo độ tuổi của trẻ, các bà mẹ nên cho trẻ ăn ít một rồi tăng dần theo nhu cầu cơ thể của trẻ.