1. Căng cơ và bong gân (chấn thương dây chằng):

            Cơ luôn co và dãn trong mọi hoạt động. Căng cơ quá mức là tình trạng các thớ cơ căng dãn hơn bình thường, vượt quá giới hạn chịu đựng của cơ. Căng cơ thường thấy ở những nơi có các vận động xoay tròn hoặc uốn cong như ở vùng thắt lưng, cổ, tay & chân.
            Các đầu xương thì liên kết với nhau bằng các khớp xương. Nhiệm vụ của khớp xương là làm cho các vận động theo nhiều chiều & phối hợp phong phú các vận động đó, nó cũng có chức năng làm giảm chấn động lên các đầu xương khi ta hoạt động. Các bó sợi có tính đàn hồi, có mức căng dãn cao dùng để nối 2 đầu xương ở mỗi khớp- gọi là dây chằng. Bong gân là tình trạng các dây chằng này căng dãn quá mức gây ra tình trạng tổn thương và sưng phù, khi ấy dây chằng không thể hoàn thành nhiệm vụ như đã nêu trên. Một số khớp thường bị bong gân như khớp vai, khớp cùi chỏ, khớp gối & nhất là khớp cổ tay & mắt cá chân.
2. Sự khác biệt giữa căng cơ và bong gân:
            Mặc dù cả hai đều có thể gây cho chúng ta đau rất nhiều, tuy nhiên căng cơ thì không có nghiêm trọng bằng bong gân. Căng cơ là chứng đau ở các bắp thịt, có thể khởi đau tức khắc hoặc là sau đó vài giờ. Các vùng bị đau có khuynh hướng bị sưng lên và cũng có thể xuất hiện những vết bầm tím.
            Bong gân gây đau ngay tức khắc, nơi bị bong gân sưng phồng lên và trông có vết bầm tím, gây ra khó khăn trong vận động và thậm chí các đầu xương có thể đã bị lệch ra khỏi ổ khớp hoặc đã bị gãy, mẻ.
3. Nguyên nhân gây căng cơ và bong gân:
            - Chứng căng cơ: Xảy ra khi dồn ép nhiều sức lực vào một bắp thịt hoặc là ra sức để với lấy một vật gì đó quá xa, hoặc khi nâng nhấc một vật nặng. Chứng căng cơ thường xảy ra nhiều hơn khi không trải qua khâu làm nóng cơ thể trước những lần vận động nặng. Không chơi thể thao trong một khoảng thời gian dài và một hôm nào đó hứng khởi chơi quá mức trở lại có thể gây ra chứng chứng căng cơ. Hay nói khác đi, chứng căng cơ thường xảy ra đối với các vận động viên thể thao vừa mới trở lại tập luyện sau một thời gian nghỉ tập.
            - Bong gân (chấn thương dây chằng):

                        + Do cơ chế chấn thương gián tiếp là lực uốn bẻ, kéo căng quá mức.

                        + Do tổn thương: Vết bầm hay đụng dập, khi va vấp, chơi thể thao, tai nạn...

4. Một số loại chấn thương dây chằng:

4.1 Viêm dây chằng gan bàn chân: Dây chằng gan bàn chân là một phần mô rộng, dày chạy dọc gan bàn chân từ dưới gót chân đến phía ngón chân. Viêm dây chằng gan bàn chân là một tình trạng đau gây ra bởi vận động quá sức dây chằng gan bàn chân hoặc cung bàn chân.

Nguyên nhân:

            - Nguyên nhân phổ biến nhất là do cơ bắp chân rất chặt dẫn đến kéo dài hoặc tăng tốc độ quay về trước của bàn chân. Điều này lặp đi lặp lại kéo dài dẫn đến viêm và dày lên của gân. Dây chằng dày nó sẽ mất tính linh hoạt và sức mạnh.
            - Bàn chân có vòm cung cao hoặc vòm thấp (Bàn chân lõm, bàn chân bẹt) và bất thường cơ sinh học khác gồm quay ngửa quá mức.
            - Đi bộ quá nhiều trên giày dép mà không có sự cung cấp hỗ trợ đầy đủ về đế đỡ.

            - Béo phì có nhiều nguy cơ phát triển viêm do trọng lượng vượt quá mức làm ảnh hưởng đến bàn chân.

Triệu chứng:

            - Đau Gót Chân, phía dưới gót chân và thường vào bên trong.
            - Đau khi ấn vào bên trong gót chân và đôi khi theo hình cung bàn chân.
            - Đau thường tăng vào buổi sáng như dây chằng bị thắt chặt lên qua đêm. Sau một vài phút, giảm bớt khi bàn chân được ấm lên.
            - Tình trạng cơn đau trở nên nghiêm trọng hơn có thể trở nên tồi tệ hơn trong suốt cả ngày nếu vẫn tiếp tục hoạt động.
            - Kéo căng dây chằng gan bàn chân có thể gây đau.
            - Đôi khi cũng có thể có đau dọc theo phía bên ngoài của gót chân.

            - Bệnh liên quan đến việc chạy, khiêu vũ hoặc nhảy. Ở những người chạy lao người về trước quá mức.

4.2 Dãn đứt dây chằng đầu gối: Đầu gối khi chấn thương sẽ rất có thể xảy ra hai loại tổn thương sau:

            - Dãn hoặc đứt dây chằng: Đầu gối có ba loại dây chằng khác nhau như dây chằng chéo trước, dây chằng chéo sau, dây chằng bên (dây chằng bên trong và dây chằng bên ngoài). Dấu hiệu của việc đứt hoặc dãn dây chằng này là đau, sau đó khi đã hết đau thì cảm giác khớp gối lỏng lẻo. Mức độ lỏng tùy theo độ nặng nhẹ của chấn thương.

            - Rạn hoặc rách sụn chêm đầu gồi: Sụn chêm chính là  phần bọc ngoài cùng của xương chày cũng như ổ khớp gối. Lúc bình thường, mặt lớp sụn chêm này nhẵn, lại có dịch trơn làm giảm ma sát nên xương chày xoay trơn tru trong ổ khớp. Khi bị rách hoặc rạn, bề mặt sụn không còn trơn mà có rãnh vỡ, nên khi di chuyển không trơn tru nữa mà ma sát mạnh vào nhau gây đau.

            Xét nghiệm: X-quang xem xương có rạn nứt gì không. Chụp cộng hưởng từ có thể nhìn được xem mức độ dãn/đứt dây chằng và nhất là rạn/rách sụn chêm.

4.3 Bong gân cổ chân (lật sơ mi): Chấn thương vùng cổ chân rất hay gặp trong thể thao cũng như trong sinh hoạt bình thường hằng ngày, thường gặp nhất là tình trạng cổ chân bị lật sang bên hay còn gọi là ”lật sơ mi”, khi đi khám thường được chẩn đoán là bong gân cổ chân. Khi mới bị chấn thương nếu được điều trị đúng cách sẽ khỏi hoàn toàn một cách nhanh chóng, ngược lại sẽ rất ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cũng như rất khó khăn để chữa dứt điểm về sau này.

            Bong gân nhẹ (độ 1): Đau vừa, sưng tại chỗ, vẫn đi lại được. Thời gian lành hoàn toàn khoảng 4-6 tuần

            Bong gân trung bình (độ 2): Có thể nghe tiếng rách nhỏ khi bị chấn thương. Cổ chân sưng to và đau nhiều làm đi lại khó khăn. Vài ngày sau có thể có dấu bầm tím ngoài da. Bệnh vẫn phục hồi nhưng lâu hơn, khoảng 4-8 tuần.

            Bong gân nặng (độ 3): Dây chằng bị đứt hoàn toàn, toàn bộ cổ chân sưng và rất đau. Cổ chân bị “lỏng lẻo ” rất rõ và đi lại hết sức khó khăn và rất đau. Mức độ này cần được điều trị tích cực mới mong phục hồi hoàn toàn, có thể kéo dài tới 12 tuần.

5. Xử trí:

- Nguyên tắc xử trí ban đầu: R - I - C - E

Bước 1: R (rest): Nằm nghỉ, hạn chế cử động, có thể tiến hành gắn nẹp bảo vệ.

            Ngay sau khi bị chấn thương, cần ngừng mọi vận động ngay lập tức. Dừng tập luyện và nghỉ ngơi sẽ giúp bảo vệ vết thương không nghiêm trọng hơn.

Bước 2: I (ice): Chườm lạnh quanh cổ chân bằng túi nylon đựng nước đá.

            Nếu có điều kiện, nên sử dụng túi chườm lạnh (túi gel) hoặc mua một bịch nước đá đập nhỏ, bọc trong khăn và chườm lên vùng đang đau nhức từ 5 - 10 phút, giữa những lần chườm cách nhau khoảng một giờ. Chú ý không được dùng quá lâu (không quá 15 phút) hoặc chườm đá trực tiếp lên da, có thể gây bỏng lạnh. Chườm lạnh làm các mạch máu, mô bị dập do chấn thương co rút lại, giúp cầm máu, giảm sưng đau, phù nề, vết thương bình phục tốt hơn.

Bước 3: C (compression): Dùng băng thun băng ép vừa phải để hạn chế sự sưng do ứ trệ máu tĩnh mạch.

            Dùng băng (nếu có băng chun càng tốt) quấn nhẹ từ dưới lên trên: Từ 15-20cm bên dưới, băng phủ qua vết thương và băng lên trên vùng bị thương 15-20cm. Không nên quấn chặt tay vì sẽ khiến máu không lưu thông, gây phù nề. Băng ép giúp hỗ trợ việc chườm lạnh, tăng tính năng cầm máu, giảm sưng phù.

Bước 4: E (elevation): Kê cao vùng tổn thương giúp sự lưu thông máu tĩnh mạch dễ dàng hơn.

            Khi nghỉ ngơi ở tư thế nằm, bệnh nhân cần được kê chân, tay (bị chấn thương) lên gối cao hơn khoảng 10 - 15cm so với mặt phẳng tim. Khi kê cao, máu ở vùng chi bị thương trở về tim dễ dàng hơn, giúp giảm phù nề.

            Nếu đã thực hiện đúng các bước như trên mà sau 48 - 72 giờ không thuyên giảm nghĩa là vết thương thuộc loại vừa hoặc nặng, cần đến bác sĩ chuyên khoa khám ngay.

            Trong trường hợp chấn thương phần mềm nhẹ, sau 48 - 72g, khi đã hết đau, có thể bôi một số loại kem, gel lạnh có chứa chất kháng viêm như Voltarene gel, Fastum gel, Profenid gel…

Không nên làm :
            - Xoa bóp dầu nóng: Sưng thêm
            - Kéo nắn: Chảy máu thêm, rách thêm
            - Bó thuốc bắc: Nhiễm trùng da
            - Vận động mạnh quá sớm: Dây chằng không lành
            - Chích thuốc vào tổn thương: Lâu lành hơn

6. Tập phục hồi chức năng sau mổ cho bệnh nhân tạo hình dây chằng chéo trước khớp gối:

6.1 Hướng dẫn chung:

            - Thời gian cần để hình thành các mạch máu nuôi mảnh ghép là khoảng 8 tuần

            - Không cần thiết phải dùng máy tập

            - Bản hướng dẫn này dành cho bệnh nhân mổ tạo hình dây chằng chéo trước bằng Hamstring có hoặc không có cắt sụn chêm kèm theo.

            - Thời gian đeo nẹp hoặc dùng nạng tùy theo yêu cầu điều trị

            - Thời gian phục hồi chức năng sau mổ có thể kéo dài từ 3 đến 9 tháng

6.2 Các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân:

Trừ khi có yêu cầu đặc biệt khác trong quá trình phục hồi chức năng, còn lại bệnh nhân có thể thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày như hướng dẫn dưới đây:
            - Tắm (dưới vòi hoa sen hoặc ngâm mình trong bồn) không cần đeo nẹp: Sau khi cắt chỉ
            - Ngủ: Luôn luôn đeo nẹp trong vòng ít nhất 1 tuần
            - Đi lại: Luôn đeo nẹp. Sử dụng nạng, nẹp khi đi lại trong vòng 6 tuần nếu có thay đổi về dáng đi. Có thể đi lại tỳ chân 1 phần ngay sau mổ

6.3 Các giai đoạn của chương trình tập luyện:

Gồm 4 giai đoạn:

            - Giai đoạn 1: 0-6 tuần    khám lại: 1 lần/ 1 tuần

            - Giai đoạn 2: 7-9 tuần    khám lại: 1 lần/ 2 tuần

            - Giai đoạn 3: 2-6 tháng    khám lại: 1 lần/ 3 tuần

            - Giai đoạn 4: 6-9 tháng    khám lại: 1 lần/ 4 tuần

6.4 Chương trình tập luyện:

6.4.1 Giai đoạn 1: Tập ngay sau mổ cho đến hết 6 tuần
* Mục tiêu cần đạt được :

            - Bảo vệ mảnh ghép được cố định tốt. Giảm thiểu ảnh hưởng của sự bất động

            - Kiểm soát tình trạng viêm

            - Duỗi gối phải tối đa

            - Hướng dẫn bệnh nhân về quy trình tập luyện

* Nẹp gối:

            - 0-2 tuần: Luôn đeo nẹp kể cả khi đi lại và khi ngủ

            - 2-6 tuần: Có thể bỏ ra khi đi ngủ

* Việc tỳ chân khi đi lại: Tỳ chân có thể thực hiện một phần hoặc hoàn toàn với 2 nạng ở mức độ bệnh nhân chấp nhận được

* Chương trình tập luyện:

            - Tập dạng khép háng, trong nẹp, trên giường( hình 1)

            - Tập gấp háng trong nẹp( hình 1)

            - Tập lên gân cơ cẳng chân, gấp duỗi cổ chân( hình 2)

            - Day bánh chè( hình 5)

            - Tập gấp gối thụ động( có người đỡ) đến 90 độ

            - Tập gấp duỗi cổ chân( hình 4)

6.4.2 Giai đoạn 2: Từ tuần 7 đến tuần 9

* Tiêu chuẩn để tập giai đoạn 2 là:

            - Cơ tứ đầu tốt, khỏe. Có thể gấp háng khi nằm mà không mất duỗi gối

            - Gấp gối đến 90 độ

            - Duỗi gối tối đa

            - Không có biểu hiện của viêm: Không có tràn dịch khớp gối, không đau, không sưng nề

* Mục tiêu

            - Phục hồi dáng đi bình thường

            - Duy trì việc duỗi gối tối đa, đặc biệt là duỗi háng

            - Bảo vệ mảnh ghép

            - Bắt đầu tập các động tác mang tính chất liên hoàn

* Đeo nẹp và tỳ chân:

            - Bỏ nẹp nếu bệnh nhân có thể gấp háng mà không mất duỗi gối

            - Bệnh nhân phải loại bỏ ngay kiểu đi giảm đau, nếu cần có thể dùngü một nạng hoặc batoong tới khi dáng đi bình thường

* Chương trình tập luyện:

            - Tập xuống tấn đến 45 độ, 2 tay vịn tường, giữ trong 30 giây sau đó đứng thẳng, có thể tập mang thêm tạ nhẹ khi đã thành thạo động tác ( hình 7), ngày tập 3 lần, mỗi lần 10 - 15 lượt

            - Tập kiễng mũi chân, ngày tập 3 lần, mỗi lần 10 - 15 lượt, khi thuần thục có thể tập thêm với tạ nhẹ( hình 8)

            - Tập duỗi chân có lực cản( bệnh nhân gấp gối, từ từ duỗi ra có lực cản của người hướng dẫn tập hoặc tập với tạ nhẹ), ngày tập 3 lần, mỗi lần 10 - 15 lượt ( hình 6)

6.4.3 Giai đoạn 3: Từ 10 tuần đến 6 tháng

* Mục tiêu:

            - Biên độ vận động gối bình thường

            - Tăng cường sức mạnh của các khối cơ để chuẩn bị cho các hoạt động chức năng

            - Tránh các động tác ảnh hưởng đến mảnh ghép

* Chương trình tập luyện:
            - Tiếp tục các bài tập mềm dẻo: Đi xe đạp
            - Tập leo cầu thang, tránh duỗi gối quá mức
            - Tập bơi

6.4.4 Giai đoạn 4: Từ 6 đến 9 tháng

* Tiêu chuẩn để tiến hành tập giai đoạn 4:

            - Biên độ gấp duỗi gối bình thường, không đau

            - Không có dấu hiệu bất thường của khớp bánh chè lồi cầu

            - Cơ lực và trương lực cơ bằng khoảng 70% bên đối diện

* Mục tiêu: Tăng cường sức mạnh cơ, tập các bài tập để trở lại các hoạt động chức năng

* Chương trình tập luyện:

            - Tiếp tục các bài tập mềm dẻo và tăng cường sức mạnh

            - Tập các bài hỗ trợ tùy theo mục tiêu cụ thể của bệnh nhân (chơi) bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, …)

            - Tập các bài chức năng mà không bị hạn chế:

                        + Đi bộ

                        + Chạy tiến, lùi: Tốc độ bằng 1/2 -> 3/4 -> bình thường như trước chấn thương

            - Bắt đầu tập các bài tập kỹ năng của môn thể thao

6.4.5 Giai đoạn 5: Bắt đầu sau 9 tháng

* Tiêu chuẩn để chuyển sang giai đoạn 5:

            - Không bất thường về phần mềm hoặc khớp bánh chè lồi cầu.

            - Biên độ vận động khớp bình thường, sức mạnh cơ bình thường để trở lại một cách an toàn đối với các hoạt động thể thao

* Mục tiêu:

            - Bệnh nhân trở lại với hoạt động thể thao một cách an toàn.

            - Duy trì sức mạnh, độ bền của cơ bắp, chi thể.

            - Giải thích bệnh nhân nắm được nguy cơ và các động tác cần hạn chế để tránh ảnh hưởng đến dây chằng.

* Nẹp gối:

            - Bệnh nhân sử dụng một băng gối chức năng để bảo vệ trong thời gian 1-2 năm sau phẫu thuật.

 7. Hỏi đáp:

Câu hỏi: Bị bong gân có nên đắp gừng và muối?
Em vừa mới bị bong gân do chơi thể thao. Mắt cá chân (phía ngoài) của em bị sưng to nhưng không bầm tím. Đi lại vẫn được, chỉ khi lỡ trẹo chân thì mới đau. Em thấy có phương pháp dân gian chữa bong gân bằng cách đắp gừng và muối. Kính nhờ BS hướng dẫn em thêm về phương pháp này

Trả lời:

            Nếu đã xác định là bong gân rồi thì em nên chườm lạnh (chườm đá) không nên chườm nóng.

            Chườm nóng chỉ áp dụng cho những tổn thương phần mềm như va chạm mà bị dập. Chườm nóng có tác dụng làm tăng cường tuần hoàn đến nơi tổn thương giúp mau lành vết thương. Gừng giã với một ít muối xào sơ lên đắp vào chỗ tổn thương là một trong những cách chườm nóng đó em.

            Bong gân cũng tổn thương phần mềm nhưng có kèm theo bong một số hoặc nhiều sợi gân bám vào đầu xương. Nên khi tổn thương giai đoạn đầu em phải chườm đá ngay, chườm lạnh có tác dụng co mạch máu chống xuất tiết, chống phù nề nên làm giảm đau, giảm sưng tại chỗ.

            Trường hợp của em nếu mới bị thì chườm đá, còn nếu bị lâu rồi thì em có thể chườm gừng, muối được.

            Cách làm: giã một mẩu gừng bằng ngón chân cái, rắc muối vào. Cho hỗn hợp vào vải gạc rồi quấn vào mắt cá chân. Em đắp lúc nào trong ngày cũng được, nhưng đắp vào buổi tối trước khi đi ngủ thì sẽ có hiệu quả cao hơn vì lúc đó chân em không phải vận động nữa.