1. Khái niệm:

            Viêm khớp dạng thấp là một bệnh hay gặp nhất trong các bệnh khớp. Là một bệnh mang tính chất xã hội vì sự thường có, vì sự diễn biến kéo dài và vì hậu quả dẫn đến sự tàn phế.

            Bệnh có nhiều tên gọi khác nhau: Thấp khớp teo đét, hay bệnh viêm khớp sacco, hay viêm khớp dạng thấp, hay viêm đa khớp mạn tính tiến triển, hay viêm đa khớp nhiễm khuẩn không đặc hiệu, hay thấp khớp mạn tính dính và biến dạng

2. Nguyên nhân gây bệnh:

            - Yếu tố tác nhân gây bệnh: Có thể là một loại virus...

            - Yếu tố cơ địa: Bệnh có liên quan rõ rệt đến giới tính và lứa tuổi.

            - Yếu tố gia đình: Có tính chất gia đình.

            - Các yếu tố thuận lợi khác: Suy yếu, mệt mỏi, chấn thương, bệnh truyền nhiễm, lạnh và ẩm kéo dài, phẫu thuật.

3. Triệu chứng:

3.1 Viêm khớp:

 Giai đoạn khởi phát:

            + Vị trí ban đầu: 2/3 trường hợp bắt đầu bằng viêm một khớp, trong đó 1/3 bắt đầu bằng viêm một trong các khớp nhỏ ở bàn tay (cổ tay, bàn ngón, ngón gần), 1/3 viêm khớp gối, và 1/3 các khớp còn lại.

            + Tính chất: Sưng đau rõ, ngón tay thường có hình thoi, dấu hiệu cứng khớp buổi sáng. Bệnh diễn biến kéo dài từ vài tuần đến vài tháng rồi chuyển sang giai đoạn toàn phát.

Giai đoạn toàn phát:

            + Vị trí viêm khớp: Bàn tay, cổ tay, khớp ngón gần, khớp gối, bàn chân, cổ chân, ngón chân, khớp khuỷu, các khớp khác ( háng, cột sống, hàm, ức đòn hiếm gặp và thường xuất hiện muộn.

            + Tính chất viêm:

                        - Đối xứng 95%.

                        - Sưng phần mu tay hơn phần lòng bàn tay.

                        - Sưng đau và hạn chế vận động, ít nóng đỏ, có thể có nước ở khớp gối.

                        - Có dấu hiệu cứng khớp buổi sáng 90%.

                        - Đau tăng nhiều về đêm gần sáng.

                        - Các ngón tay có hình thoi nhất là các ngón 2, 3, 4.

            + Diễn biến: Các khớp viêm tiến triển tăng dần và nặng dần, phát triển thêm các khớp khác. Các khớp viêm dần dần dẫn đến tình trạng dính và biến dạng.

3.2 Triệu chứng toàn thân và ngoài khớp:

Toàn thân: Gày sút, mệt mỏi, ăn ngủ kém, da niêm mạc xanh nhợt do thiếu máu, rối loạn thần kinh thực vật.

Biểu hiện ngoài da:

            + Hạt dưới da: Là những hạt hay cục nổi lên khỏi mặt da, chắc, không đau, không có lỗ dò, không di động, có kích thước 5 mm đến 20mm đường kính. Vị trí hay gặp gần khớp khuỷu, gần khớp gối, hoặc quanh các khớp khác, số lượng có từ một đến vài hạt.

            + Da khô, teo và xơ, nhất là các chi.

            + Gan bàn tay và chân thấy giãn mạch đỏ hồng.

            + Rối loạn dinh dưỡng và vận mạch có thể gây loét vô khuẩn ở chân, phù một đoạn chi nhất là chân.

Cơ, gân, dây chằng, bao khớp:

            + Teo cơ rõ rệt ở vùng quanh khớp tổn thương.

            + Viêm gân: Hay gặp viêm gân asin

            + Dây chằng: Phần lớn là viêm co kéo nhưng có những trường hợp giãn dây chằng gây lỏng lẻo khớp.

            + Bao khớp: Có thể phình ra thành các kén.

Nội tạng: Rất hiếm gặp.

Mắt, thần kinh, chuyển hóa:

            + Mắt: Viêm giác mạc, viêm mống mắt thể mi

            + Thần kinh: Viêm và xơ dính phần mềm quanh khớp có thể chèn ép vào các dây thần kinh ngoại biên.

            + Thiếu máu nhược sắc, rối loạn thần kinh thực vật 

 4. Xét nghiệm:

4.1 XQ: Khuyết nhỏ đầu xương, hẹp khe.

Các tổn thương này nặng dần theo giai đoạn bệnh:
            - Giai đoạn sớm: Mất vôi đầu xương. Hình bào mòn xương. Hình hốc trong xương. Khe khớp hẹp.
            - Giai đoạn muộn: Dính và biến dạng khớp.
* Giai đoạn theo tiêu chuẩn Stein-Broker:
            - Tổn thương khu trú ở màng hoạt dịch, XQ chưa thay đổi, BN vận động gần như bình thường.
            - Tổn thương một phần đầu xương, sụn khớp. XQ có hình ảnh bào mòn, khe khớp hẹp. Khả năng vận động bị hạn chế, tay còn nắm được, đi lại bằng gậy nạng.
            - Tổn thương nhiều ở đầu xương, sụn khớp. XQ dính khớp 1 phần. Khả năng vận động còn ít, BN chỉ còn tự phục vụ mình trong sinh hoạt, không đi lại được.
            - XQ dính và biến dạng khớp trầm trọng, mất hết chức năng vận động, tàn phế hoàn toàn.

4.2 Phản ứng Waalea Rose, test latex(+): Ít nhất làm hai lần.

5. Các thể bệnh:

5.1 Thể bệnh theo triệu chứng:

* Thể một khớp: Hay gặp ở khớp gối, chẩn đoán khó, cần tiến hành sinh thiết màng hoạt dịch.

* Thể có lách to: Hội chứng Felty, bệnh nhân có lách to, bạch cầu giảm, đôi khi có gan to, nổi hạch và xạm da.

* Thể có kèm hội chứng Sjogrens Gougerot: Viêm khớp dạng thấp có viêm teo tuyến nước bọt và tuyến nước mắt, còn gọi là hội chứng khô mắt và miệng.

* Thể xuất hiện sau bệnh bụi phổi (hội chứng Caplan): Thường là nhiễm bụi than và bụi Silic.

5.2 Thể bệnh theo tiến triển:

* Thể lành tính: Tiến triển chậm, số lượng khớp bị ít.

*. Thể nặng: Nhiều khớp, có sốt, có biểu hiện nội tạng tiến triển nhanh và liên tục.

* Thể ác tính: Sốt cao, tràn dịch khớp, tiến triển rất nhanh dẫn đến dính và biến dạng khớp.

5.3 Thể theo cơ địa: 

* Thể ở nam giới: Nhẹ và không điển hình.

* Thể ở người già: Mắc bệnh sau 60 tuổi, bệnh nhẹ, dễ nhầm với thoái hóa khớp.

* Thể có phản ứng Waaler Rose (-) gọi là thể huyết thanh âm tính. Bệnh nặng, điều trị khó.

6. Biến chứng:

            - Nhiếm khuẩn phụ, nhất là lao.

            - Tai biến do dùng thuốc điều trị viêm khớp dạng thấp.

            - Chèn ép thần kinh.

            - Biến chứng tim, thận, mắt: Hiếm gặp.

 7. Xử trí:

 7.1 Nguyên tắc chung:

                        - Viêm khớp dạng thấp là một bệnh mạn tính kéo dài hàng chục năm, đòi hỏi quá trình điều trị phải kiên trì, liên tục có khi suốt cả cuộc đời người bệnh.

                        - Phải sử dụng kết hợp nhiều biện pháp điều trị như nội khoa, ngoại khoa, vật lý, chỉnh hình, tái giáo dục nghề nghiệp.

                        - Thời gian điều trị chia làm nhiều giai đoạn: Nội trú, ngoại trú, điều dưỡng.

                        - Phải có người chuyên trách, theo dõi và quản lý bệnh nhân lâu dài.

7.2 Thuốc: Tùy theo giai đoạn viêm khớp dạng thấp mà dùng thuốc chống viêm không có coticoid hoặc thuốc coticoid.

7.3 Điều trị bằng ngoại khoa, vật lý:

- Ngoại khoa được chỉ định trong :

            + Cắt bỏ màng hoạt dịch khi bệnh chỉ còn khu trú ở khớp gối

            + Phẫu thuật chỉnh hình để phục hồi chức năng.

Điều trị vật lý: Là một yêu cầu bắt buộc nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các di chứng, nhằm tái giáo dục khả năng lao động nghề nghiệp cho công nhân. Điều trị vật lý bao gồm điều trị bằng điện, bằng tay, nước suối khoáng, bùn khoáng, vận động thụ động và chủ động.

7.4 Một số bài thuốc hỗ trợ cho bệnh nhân viêm khớp:

Bài 1: Ngũ gia bì gai ngâm trong rượu trắng nửa tháng sau đó chiết ra uống. Tuy nhiên mỗi lần không uống được quá 20ml. Kiên trì uống hàng ngày, lâu dài.

Bài 2: Một lượng lá đào tươi vừa đủ, rượu trăng 150ml. Hâm nóng rượu, lá đào dùng tay bóp nát, tẩm rượu rửa chỗ đau. Trước khi đi ngủ rửa một lần.

Bài 3: Gừng tươi 200g, rượu mùi 400ml, đường đỏ 120g. Gừng thái nhỏ, đập dập ép lấy nước. Cho nước gừng, đường đỏ và rượu vào nồi đem đun nhỏ lửa đến khi sôi. Hàng ngày trước khi đi ngủ uống một chút cho ra mồ hôi.

Bài 4: Rượu vỏ gừng: Gừng tươi vừa đủ, rượu trắng 100ml, gừng tươi rửa sạch, cạo lấy khoảng một thìa con vỏ, sấy khô. Cho vỏ gừng vào rượu trắng khuấy đều uống.

Bài 5: Cải bó xôi 60g, nấm hương 180g, muối vừa đủ. Cải bó xôi rửa sạch, thái nhỏ, nấm hương rửa sạch, bỏ chân. Cho hai thứ trên vào nồi, đổ nước vừa phải đun chín, nêm muối vừa đủ, ngày dùng 2 lần

Bài 6: Câu kỳ tử, đỗ trọng, ngũ gia bì 30g, ngâm với 1.5 lít rượu gạo trong một tuần, mỗi tối trước khi đi ngủ uống 25ml

Bài 7: Bổ cốt chi 30g, ngâm trong 500ml rượu trắng. Sau 7 ngày chiết ra uống, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 2 thìa.

Bài 8: Ngũ gia bì 50- 100g, gạo nếp 500- 1000g. Rửa sạch ngũ gia bì, cho lượng nước vừa đủ ngâm kỹ nấu chín, 30 phút lấy nước một lần. Tất cả lấy 2 lần nước. Dùng nước đó nấu cơm nếp, đợi nguội cho men rượu vào trộn đều, để lên men thành bỗng rượu. Mỗi ngày trước khi ăn cơm ăn một ít.

8. Chế độ dinh dưỡng: Với bệnh viêm khớp dạng thấp chế độ ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, cần tăng cường rau xanh, các loại hoa quả, hạn chế chất kích thích, đồ cay nóng… để bệnh không gây ra những ảnh hưởng nặng nề hơn.

            Người bệnh viêm khớp dạng thấp thường thấy mệt mỏi, cứng các khớp xương vào buổi sáng. Vì vậy, họ cần ăn điểm tâm đầy đủ để tăng thêm sức lực. Ngoài 3 bữa chính, nên ăn thêm 2-3 bữa phụ với thực phẩm giàu năng lượng. Thức ăn càng đa dạng càng tốt. Trong chế độ dinh dưỡng, người bị thấp khớp cần chú ý tới những loại thực phẩm giàu vitamin C, D, E, một số loại acid béo có tác dụng tốt với khớp.

            Hàm lượng khuyến cáo với từng thành phần dinh dưỡng là:

- Chất đạm: Dùng 50 g thịt, 100 g đậu đỗ mỗi ngày. Nên tăng cường cá. Các loại thực phẩm giàu chất đạm như thịt cá, trứng, sữa, nghêu sò, tào phớ và đậu các loại... đều có lợi cho sức khỏe. Chú ý chỉ ăn thịt nạc bỏ da, không ăn phủ tạng. Nên thay bớt đạm động vật bằng đạm thực vật. Không cần kiêng các thực phẩm có chất tanh (cua, tôm...), trừ những người dị ứng với loại thực phẩm này.
Cần tăng cường uống sữa vì đây là nguồn cung cấp canxi quan trọng, rất tốt cho người bệnh khớp.

- Chất béo: Để giảm đau và viêm khớp, nên sử dụng các loại dầu chứa nhiều axit béo omega-3 như dầu đậu nành, dầu hạnh nhân. Không nên dùng quá 20 g dầu thực vật mỗi ngày.

            + Acid béo hệ Omega-3: Acid này có nhiều trong các loại cá giàu chất béo, có khả năng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, làm thuyên giảm các triệu chứng của bệnh.

- Những loại cá giàu acid béo hệ Omega-3 gồm: Cá hồi, cá thu, cá trích, cá mòi, cá ngừ. Bên cạnh đó, dầu cá có thể loại bỏ tình trạng cứng khớp buổi sáng và làm giảm số lần đau khớp ở những bệnh nhân viêm khớp mạn tính.

- Tinh bột: Ăn đầy đủ các thức ăn giàu chất bột như cơm, mì, khoai củ để không bị thiếu dinh dưỡng. Ngũ cốc thô, các loại đậu, các loại hạt còn nguyên lớp vỏ lụa bên ngoài chứa rất nhiều chất xơ, sinh tố và khoáng chất có tính năng giải độc, chống béo phì và tăng cường sức đề kháng, những yếu tố hữu ích cho việc điều trị và phục hồi sức khỏe trong bệnh viêm khớp.

- Rau trái: Nên dùng trên 300 g rau và 200 g hoa quả mỗi ngày. Chất xơ trong rau trái giúp giảm cholesterol máu, tránh táo bón (vốn là tình trạng thường gặp ở người bệnh khớp).Các loại rau có lá màu xanh đậm hoặc vàng  có chứa nhiều  chất chống oxy hóa như beta-cryptoxanthin, zeaxanthin và Vitamin C có thể phòng chống hiệu quả các chứng bệnh viêm khớp. Cà chua tốt cho người bị thấp khớp nhờ hàm lượng lycopen và chất carotenoit chống ôxy hoá. Một cốc nước ép cà chua chín mỗi ngày thực sự rất cần thiết cho việc bảo vệ sụn!

            + Với những người bị viêm khớp, nên ăn nhiêu bắp cải. Loại rau này giống như một chất bôi trơn, làm linh hoạt chuyển động các khớp.

- Vitamin và khoáng chất: 
            + Acid folic là một vitamin B trong thức ăn và cũng có thể bổ sung từ ngoài. Khi bệnh nhân viêm khớp dạng thấp điều trị bằng methotrexate thì phải bổ sung acid folic để tạo tế bào hồng cầu. Bổ sung acid folic còn giúp giảm triệu chứng đau và phản ứng viêm cũng như tác dụng phụ của thuốc. Acid folic thường có trong: Rau xanh sẫm, ngũ cốc, thịt gia cầm, gan...
            + Selenium giúp chống lại gốc tự do gây tổn thương mô cơ thể. Selenium có nhiều trong thịt, tôm cua, sò ốc, phô mai và thực phẩm chứa nhiều protein...
            + Nếu người bệnh VKDT có dùng corticoid thì cần thiết phải bổ sung canxi và vitamin D giúp củng cố xương.

            + Vitamin E như đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương có tác dụng giảm đau chống viêm.

             Ngoài ra, một vài nhánh tỏi ăn sống hoặc chế biến cùng thức ăn cũng rất tốt cho khớp. Các loại rau thơm như như hành, húng, mùi tây, cà rốt, rau diếp thì đó đều là những thực phẩm được khuyên dùng cho người bệnh thấp khớp. 

- Muối, đường: Không nên ăn thực phẩm quá mặn hoặc quá nhạt. Cần hạn chế lượng muối ở mức không quá 10 g/ngày và đường ở mức 20 g/ngày.

- Người bệnh cũng cần duy trì cân nặng hợp lý vì béo phì làm cho các khớp phải chịu tải nhiều hơn và làm cho bệnh tăng lên.
Hạn chế ăn mỡ động vật, thức ăn giàu cholesterol, phủ tạng, thức ăn đồ uống kích thích, không uống bia rượu và không nên hút thuốc.

* Thực phẩm cho người bị đau khớp:

            - Trái bơ, cà rốt, khoai lang ta: Nhằm tận dụng tác dung kháng oxy hóa cộng hưởng của cặp sinh tố bài trùng A và E để bảo vệ khớp và đầu gối.

            - Cá biển như cá hồi, cá mòi: Nhằm tiếp tế cho cơ thể chất  3-Omega để chất này sau đó được biến đổi thành prostaglandin, hoạt chất giữ vai trò chủ yếu trong chuỗi phản ứng kháng viêm.

            - Đu đủ, thơm, chanh, bưởi: Các loại trái cây này là nguồn cung cấp hai hoạt chất có tác dụng trợ lực cho chức năng kháng viêm của tuyến thượng thận, đó là menly giải chất gây đau.

            - Nấm đông cô và nấm mèo: Là hai món ăn được đánh giá cao nhờ có tác dụng làm giảm đau không kém các loại thuốc kinh điển như aspirin, paracetamol….và an toàn hơn vì không gây kích ứng trên đưởng tiêu hóa.

          - Sữa đậu nành, đậu hũ, hạt bí: Nhằm vừa mượn hiệu năng chống dị ứng của canxi vừa cung cấp chất vôi để bảo vệ đầu xương trước tác dụng xói  mòn của độc chất trong ổ viêm.

* Thực phẩm làm giảm cơn đau mãn tính:

- Cam:

            + Bằng cách phân tích chế độ ăn của hơn 25.000 cá nhân, một nhóm nghiên cứu trường Đại học Manchester (Anh) đã phát hiện thấy, những ngưởi có nhiều beta-cryptoxanthintrogn chế đệ ăn chắc chắc ít bị mắc bệnh viêm khớp và giảm được các cơn đau.

            + Nghiên cứu này được xuất bản trên tạp chí Dinh dưỡng lâm sàn Mỹ cho biết, chỉ cần uống một tuần vài cốc nước cam ép cũng đủ tạo nên sự khác biệt. Họ khuyên rằng , những ngưởi bị đau trong người hoặc viêm khớp (thường xuyên đau nhức) thì nên chăm uống nước cam.

- Ăn thực phẩm giàu Omega - 3 (hạt hướngdương, hạt vừng, hạt điều, cá ngừ, cá hồi, cá kiếm, cá trích):

            + Một nghiên cứu của trường đại học Pittsburgh ở những bệnh nhân thường xuyên bị tra tấn bởi những cơn đau cổ và lưng, kết quả cho thấy 60% số bệnh nhân đã giảm được đáng kể cơn đau và mức độ đau sau 3 tháng được cho ăn những thực phẩm giàu axit béo omega-3.

            + Cần ăn cá ít nhất mỗi tuần 3 lần.

- Ngoài ra còn có các thực phẩm khác như: Nho, măng tây, súp lơ, cải bắp, cà chua, lê, bưởi, đào, dưa hấu(giàu chất chống oxy hóa glutahione), tỏi, ớt, gừng, cần tây.

9. Chế độ sinh hoạt:
            - Người bệnh nên vận động nhẹ nhàng và tự phục vụ. Nên cố gắng hoạt động trong điều kiện càng gần bình thường càng tốt. Khi các khớp bị biến dạng, nên học cách thích nghi với tình trạng bệnh, cần duy trì cơ lực và các động tác vận động của khớp ở các khớp chưa bị ảnh hưởng; Không để xảy ra các biến chứng như: Co cứng ở các khớp chưa bị tổn thương, các tổn thương da và tình trạng ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch.
            - Trong sinh hoạt hàng ngày, tránh đứng hoặc ngồi quá lâu; Giữ tư thế thẳng cân đối khi đứng, đi và ngồi. Dùng các ghế ngồi cao và có tay vịn giúp việc đứng lên dễ hơn. Khi nâng một vật nào đó, cần nâng bằng cả hai tay. Khi di chuyển đồ vật, nhất là vật nặng, nên đẩy, không nên nhấc lên.
            - Nên đi bộ hàng ngày, song cần nghỉ 5-10 phút sau mỗi giờ đi. Khi đi ngủ, nên nằm ngủ bằng lưng trên nệm chắc và đảm bảo ngủ đủ giấc. Tắm nước nóng trước khi đi ngủ hoặc buổi sáng sẽ có tác dụng giảm đau.
10. Phòng bệnh: Hiện nay, công tác phòng chống viêm khớp tập trung vào việc tránh chấn thương khớp, chẩn đoán và điều trị sớm.

     -  Tăng cường vận động, tập luyện.

     - Tránh lạnh và ẩm.

11. Người bệnh hỏi- BS trả lời:

Hỏi: Ăn rau mùng tơi tốt hay không tốt cho người viêm khớp?

Trả lời:

            Mồng tơi tính hàn, thích hợp cho mùa hè. Cả Đông và Tây y đều khẳng định loại rau này có tác dụng nhuận tràng. Các nghiên cứu còn cho thấy nó giúp thải chất béo, tôt cho người có mỡ và đường máu cao, trị đau nhức xương khớp.

            Đau nhức khớp do phong thấp: Rau mồng tơi cả cây 50 - 100 g, móng chân giò vài cái, hầm với nước có ít rượu ăn với cơm hằng ngày.

            Chú ý: Rau mồng tơi tính mát lạnh, nên dùng cẩn thận với người hay bị lạnh bụng đi ngoài. Để bớt lạnh, nên nấu kỹ hoặc phối hợp thêm các thức ăn khác nguồn gốc động vật.

Câu hỏi: Có nên nhịn ăn để chữa viêm khớp dạng thấp

Trả lời

            Việc áp dụng phương pháp nhịn ăn để điều trị viêm khớp dạng thấp là tin đồn không có cơ sở khoa học.

            Nhịn ăn là phương pháp hiệu quả trong nhiều bệnh mãn tính nhưng phải được sự theo dõi đúng bài bản của thầy thuốc giỏi về phương pháp này. Hiện nay có khuynh hướng tự áp dụng một cách cường điệu, nhất là do thông tin không được kiểm chứng trên mạng.

            Viêm khớp dạng thấp là bệnh có nhiều di chứng nghiêm trọng trên tim, thận, mắt … Bệnh nhân vì thế cần được điều trị bằng thuốc đặc hiệu và thầy thuốc chuyên khoa. Không có giải pháp nào khác.

AloBacsi.vn 

12. Thiết bị y tế: Máy châm cứu 6 giắc hn-kwd-808i (huỳnh ngọc)máy châm cứu 4 giắc hn-kwd-808ii (huỳnh ngọc)