I. Nguyên nhân

1. Độ tuổi: Theo thống kê có khoảng 1/2 số người từ 65 tuổi mắc bệnh viêm khớp, trong khi đó chỉ có 1 trong 250 trẻ em bị bệnh này.

2. Gien: Nếu gia đình có cha mẹ hoặc họ hàng bị bệnh thấp khớp thì nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn.

3. Giới tính: Các thống kê đã chỉ ra rằng nam giới có nguy cơ mắc bệnh gout cao hơn nữ giới, trong khi đó nữ giới lại dễ mắc bệnh viêm khớp hơn nam giới.

4. Hút thuốc: Các nghiên cứu đã xác nhận mối liên quan trực tiếp giữa hút thuốc và bệnh viêm khớp. Các nghiên cứu tại Thuỵ Điển đã chỉ ra rằng những người hút thuốc làm tăng 21% nguy cơ mắc viêm khớp.

5. Nghề nghiệp: Rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để tìm ra mối liên quan giữa các dạng của bệnh thấp khớp và nghề nghiệp đã thấy rằng những người làm nghề sơn sửa móng tay chân, thợ sơn, thường xuyên sử dụng acetone và thuốc trừ sâu dễ mắc bệnh viêm khớp hơn. Nghiên cứu gần đây tại Thụy Điển chỉ ra rằng những người thường xuyên tiếp xúc với các loại xăng dầu tăng 30% nguy cơ mắc bệnh thấp khớp.

6. Chế độ ăn: Cơ thể thừa cân và béo phì làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp vì thế cần điều chỉnh cân nặng hợp lý. Việc sử dụng thực phẩm giàu chất béo bão hoà, thiếu chất chống ôxy hóa, các vitamin và chất khoáng cần thiết làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

II. Triệu chứng 

            Người bị viêm khớp cảm thấy đau khớp ngay cả lúc nghỉ. Chỗ đau bị sưng và luôn tiết dịch ở bên trong. Khi cố sức cử động để làm việc càng thấy đau hơn. Buổi sáng khi mới ngủ dậy, thường cảm thấy cứng tay, cứng chân. Một lúc sau mới cử động dễ dàng hơn.

            Người bị gỉ khớp thường chỉ đau khi lao động, đỡ đau khi nghỉ. Khi cử động các khớp có thể kêu răng rắc, đôi khi lên cơn đau vì bị viêm.  Ngoài ra còn có các biểu hiện:
                        + Sốt nhẹ
                        + Uể oải và mệt mỏi
                        + Ăn uống không ngon miệng.
                        + Những khớp nhỏ tại ngón tay, ngón chân, bàn tay, bàn chân, cổ tay, khuỷu tay và mắt cá chân bị sưng tấy và đau.
                        + Những khớp lớn hơn, chẳng hạn như khớp gối, cũng có thể bị ảnh hưởng..
                        + Đau và sưng tấy đồng loạt (cùng vị trí ở cả hai tay, hai chân, v.v…).
                        + Khớp dần trở nên tê cứng và có thể xảy ra biến dạng khớp.
                        + Sáng sớm khi thức dậy, các khớp thường bị tê cứng và kéo dài hơn 30 phút.
                        + Các khớp bị ảnh hưởng trở nên tê cứng, nếu bất động trong một thời gian dài.
                        + Xuất hiện những nốt mẩn nhỏ dưới da.

III. Điều trị 

            Điều trị bệnh thấp khớp khá phức tạp và cần phải được giám sát bởi một bác sỹ chuyên điều trị thấp khớp. Một số loại thuốc thường dùng bao gồm:  Thuốc chống viêm không chứa steroid (NSAID), Corticosteroid, Thuốc DMARD (thuốc chống thấp khớp thay đổi bệnh), Anti-cytokine (chống phân bào)
Phụ nữ thường bị bệnh đa viêm khớp ở bàn tay và ở đầu gối, thường được chữa trị bằng thuốc chống viêm và các loại thuốc có corticoide. Ở đàn ông, hiện tượng đau khớp có thể xảy ra ở tay, đầu gối, cổ chcân và ở cả cột sống, thường được điều trị bằng các thuốc chống viêm, dầu xoa bóp ngâm nước có những tính chất nhất định.

            Hiện tượng thoái hóa khớp ở đầu gối, hông, tay và cột xương sống thường được điều trị bằng Aspirine, thuốc chống viêm, cử động liệu pháp, các thuốc xoa bóp, ngâm nước biển, nước suối thích hợp.

            Trường hợp bệnh nặng, có khả năng bị tàn tật do khớp đã bị hủy hoại nặng, cần phải mổ để thay thế bằng các khớp nhân tạo (khớp hông, khớp đầu gối).

IV. Chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng thích hợp tuy không thể chữa khỏi bệnh khớp nhưng sẽ giúp bệnh nhân giảm nhiều đau đớn. Bạn có thể tham khảo như sau: ăn nhiều cá (cá hồi, cá thu, các trích, cá mòi, cá ngừ, cá trống) vì trong cá có acid béo hệ omega-3 có khả năng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, làm thuyên giảm các triệu chứng của bệnh này. Các vitamin C, D, E và beta-caroten có thể giúp phòng tránh được một số dạng viêm khớp. Vitamin C và D có khả năng cải thiện bệnh viêm xương - khớp. Người ta cũng đã chứng minh các thức chứa vitamin E có tác dụng giảm đau chống viêm. Còn beta-caroten (có nhiều trong cà rốt, cà chua, bí đỏ, rau xanh... và các loại trái cây, rau củ có màu đỏ) cũng có công dụng tương tự.  Như vậy, vấn đề bảo đảm chế độ dinh dưỡng đầy đủ các vitamin nói trên, ăn nhiều rau và trái cây tươi là việc rất nên làm đối với bệnh nhân bị thấp khớp.

* Món ăn phòng trị thấp khớp

            Khi thời tiết chuyển mùa, người bị thấp khớp phải chịu cái đau nhức dữ dội. Có những món ăn tuy đơn giản nhưng ngừa được cơn đau khớp.

            Theo PGS-TS Lưu Thị Hiệp, Trưởng khoa Đông y BVĐK Hồng Đức, có khá nhiều loại thực phẩm có khả năng hạn chế cơn đau khớp.

1. Nước xúp hầm từ xương ống hoặc sụn sườn bò, hoặc cá hầm cả xương: 

            Có tác dụng giúp sụn chắc khỏe và cũng là nguồn bổ sung canxi vì chúng chứa nhiều glucosamin và chondroitin là những hợp chất tự nhiên có trong sụn. Tuy nhiên, một tuần chỉ nên ăn một - hai lần. 

            Chú ý: Những người có triệu chứng như ăn khó tiêu, nặng bụng… nên thêm vài ba lát gừng trong khi nấu.

2. Món xào súp lơ xanh, cà rốt, ớt chuông: 

            Đây là món ăn giúp phòng bệnh thoái hóa khớp. Cà rốt và ớt chuông có nhiều vitamin A và E. Súp lơ xanh giàu vitamin K và C. Các thực phẩm này giúp bảo vệ khớp, làm cho xương chắc, khỏe. 

            Trong ớt chuông cũng giàu vitamin E và beta - cryptoxanthin, hai chất oxy hóa này giúp dọn dẹp các chất gây nên chứng viêm, sưng, ngoài ra còn tăng cường độ đàn hồi cho xương.

3. Canh lá lốt sườn heo: 

            Lá lốt có vị cay, mùi thơm gắt, tính ấm, tác dụng vào các kinh phế, tỳ và vị. Nó có công năng làm kiện vị, giáng khí, thông khiếu, trị phong thấp. 

            Dùng 150g lá lốt vừa già (còn màu xanh đọt chuối) rửa sạch, thái sợi. Sau khi đun sôi khoảng 20 phút 100g sườn heo trong 1/2 lít nước, cho lá lốt vào đun sôi thêm 15 phút rồi nhấc xuống, cho hai tép tỏi đập giập vào, khuấy đều. Chia làm hai phần ăn trong ngày. Mỗi tuần có thể ăn một - hai lần.

4. Gừng, hạt tiêu, ớt: 

            Tác dụng giảm đau, chống viêm đối với thoái hóa khớp. 

            Chú ý: Không nên ăn quá nhiều gia vị sẽ làm cho cơ thể nóng, khó chịu.

5. Cà chua: 

            Cà chua rất tốt cho những bệnh nhân bị thấp khớp do có chứa carotenoit chống oxy hóa. Cà chua ăn dưới dạng rau trộn, nấu canh với cá, hoặc làm sinh tố. Mỗi ngày uống một ly sinh tố cà chua, giúp bảo vệ mô sụn.

            Chú ý: Ăn luôn cả hạt thay vì bỏ, vì hạt cà chua có tác dụng làm giảm đau, kháng viêm.

6. Bắp cải: 

            Ăn bắp cải giúp giảm béo, các khớp xương vận động được dẻo dai. Bắp cải giàu vitamin C và vitamin K, rất tốt cho bệnh thấp khớp. 

7. Các cách khác:

            - Gừng tươi, lá ngũ trảo, lá ngãi cứu tươi, lá lốt: tất cả rửa sạch, xào nóng, thêm vào một chút rượu, cho vào túi vải, chườm ấm bên ngoài khớp gối đau. 

            - Lấy một nắm lá xương xông, rửa sạch, giã nát, xào nóng, bọc vào vải, chườm vào chỗ đau. Xương xông có vị đắng cay, mùi thơm đặc biệt, tính ấm, có công năng tiêu đờm, tiêu thực, khử mùi tanh, giảm đau...

            - Muối hột khoảng 150g, rang nóng, cho vào túi vải, chườm ấm bên ngoài khớp đau. 

            Chú ý: Không chườm nóng cho các khớp có tình trạng viêm: sưng, nóng, đỏ, đau.

V. Hỏi đáp:

Câu hỏi: Có nên uống vàng để trị thấp khớp?

Trả lời: 

            Xưa kia Đông y cũng như Tây y có nhiều chế phẩm từ vàng để trị bệnh thấp khớp nặng. Tuy nhiên, do độc tính cao và nhiều phản ứng phụ nên ngày nay chỉ còn vài chế phẩm loại này dùng để phụ trị trong thấp khớp nặng mà thôi.

Ví dụ:

            - Ở Pháp có dược phẩm Granions d`or dạng uống, mỗi ống 2 ml chứa 0,2 mg vàng.

            - Ở Mỹ có dược phẩm Myochrysine dạng tiêm, mỗi ống chứa 50 mg thiomalat vàng và Natri.

            Trước và trong khi dùng các loại thuốc có vàng này, bệnh nhân phải được bác sĩ theo dõi, xét nghiệm máu và kiểm tra kỹ các bệnh khác, để đề phòng phản ứng phụ và tương tác thuốc nguy hiểm.

            Thuốc có vàng dễ gây dị ứng và rối loạn miễn dịch. Vàng cũng có khả năng gây ung thư ở chuột. Vì vậy, không nên mài vàng ra để uống.