1. Khái niệm:
Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường trong vòng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinh sống. Về giải phẫu bệnh có sự đứt rách vòng sợi, về lâm sàng gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình.

2. Nguyên nhân:

- Yếu tố dịch tễ học:

            + Về giới: Nam nhiều hơn nữ, thường chiếm tới 82%.

            + Tuổi: Thường xảy ra ở lứa tuổi lao động từ 20-49 chiếm tới trên 90%.

            + Vị trí hay gặp: Thường xảy ra ở đĩa đệm L4-L5 và L5-S1, do hai đĩa đệm này là bản lề vận động chủ yếu của cột sống.

            + Nghề nghiệp: Đa số là những người lao động chân tay nặng nhọc.

- Yếu tố chấn thương: Là nguyên nhân hàng đầu. Trong đó chấn thương cấp tính, mạn tính và vi chấn thương đều là những nguyên nhân gây ra thoát vị đĩa đệm. Tuy nhiên chấn thương gây ra thoát vị đĩa đệm chỉ phát sinh khi bệnh nhân bị bệnh lý hư xương sụn cột sống thắt lưng hoặc thoái hóa đĩa đệm.

- Thoái hóa đĩa đệm: Đĩa đệm có thể bị thoái hóa sinh lý (lão hóa) hay thứ phát đến một mức độ nào đó sẽ không chịu đựng được một lực chấn thương nhẹ hay một tác động của tải trọng nhẹ cũng có thể gây thoát vị đĩa đệm.

- Những yếu tố gây nên thoát vị đĩa đệm:

            + Áp lực trọng tải cao.

            + Áp lực căng phồng của tổ chức đĩa đệm cao.

            + Sự lỏng lẻo trong từng phần với sự tan rã của tổ chức đĩa đệm.

            + Lực đẩy, nén ép, xoắn vặn quá mức vào đĩa đệm cột sống.

            Nói tóm lại có thể khái quát, thoái hóa đĩa đệm là nguyên nhân cơ bản, tác động cơ học là nguyên nhân khởi phát và sự phối hợp của hai yếu tố đó là nguồn phát sinh thoát vị đĩa đệm.

3. Triệu chứng:

- Hoàn cảnh phát bệnh: Thường xuất hiện sau một chấn thương hay gắng sức của cột sống.

- Tiền sử: Thường bị đau thắt lưng tái phát nhiều lần.

- Tiến triển: Bệnh thường phát triển theo 2 giai đoạn:

            + Giai đoạn đau cấp: Là giai đoạn đau lưng cấp xuất hiện sau một chấn thương hay gắng sức. Về sau mỗi khi có những gắng sức tương tự thì đau lại tái phát. ở giai đoạn này có thể có những biến đổi của vòng sợi lồi ra sau, hoặc toàn bộ đĩa đệm lồi ra sau mà vòng sợi không bị tổn thương.

            + Giai đoạn chèn ép rễ: Đã có những biểu hiện của kích thích hay chèn ép rễ thần kinh, xuất hiện các triệu chứng của hội chứng rễ: Đau lan xuống chi dưới, đau tăng khi đứng, đi, hắt hơi, rặn... Nằm nghỉ thì đỡ đau. ở giai đoạn này vòng sợi đã bị đứt, một phần hay toàn bộ nhân nhầy bị tụt ra phía sau (thoát vị sau hoặc sau bên), nhân nhầy chuyển dịch gây ra chèn ép rễ. Bên cạnh đó, những thay đổi thứ phát của thoát vị đĩa đệm như: Phù nề các mô xung quanh, ứ đọng tĩnh mạch, các quá trình dính... làm cho triệu chứng bệnh tăng lên. Biểu hiện lâm sàng điển hình với hai hội chứng: Cột sống và rễ thần kinh. 

- Các hình thức thoát vị đĩa đệm:

            + Thoát vị đĩa đệm thành một khối: Do gấp mạnh cột sống thắt lưng nên một phần lớn hay cả khối nhân bị lồi xuyên qua dây chằng dọc sau. Về triệu chứng do chèn ép rễ đột ngột nên sớm xuất hiện liệt cơ và rối loạn cơ vòng.

            + Thoát vị đĩa đệm hai bên: Phía sau của vòng sợi có thể bị hư ở cả hai bên làm các mảnh vỡ nhân nhầy lồi ra cả hai bên cùng một lúc hoặc hai lần khác nhau, do đó bệnh nhân có thể bị đau cả hai bên cách nhau hoặc cùng một lúc.

            + Thoát vị đĩa đệm nhiều nơi (đa tầng), không nhất thiết phải ở các đĩa đệm kế bên, và cùng một bên.

            + Thoát vị đĩa đệm nhân nhầy bị kẹt: Nhân nhầy lồi qua vòng sợi có thể bị kẹt giữa các mép thân đốt sống kề nhau gây cơn đau đột ngột ở vùng thắt lưng. Đau tăng khi vận động cột sống, có thể kèm theo đau dây thần kinh hông to nặng. Đau có thể biến mất đột ngột khi nhân nhầy hết bị kẹt.

4. Các xét nghiệm: 

4.1 X quang thường (thẳng - nghiêng):

            - Gẫy góc cột sống thắt lưng.

            - Xẹp đĩa đệm.

            - Mất ưỡn cong sinh lý

4.2 Chụp X quang bao rễ cản quang: 
Dùng các thuốc cản quang có Iod, không ion hóa, không độc với tủy sống (như Amipaque, Lipamiro...) bơm vào bao rễ thần kinh, rồi chụp phim thẳng, nghiêng và chếch 3/4 phải và trái.  
Trên phim chụp bao rễ, ta thấy hình ảnh bao rễ bị chèn ép có thể cắt cụt một rễ hay toàn bộ bao rễ. Đôi khi chỉ thấy dấu hiệu “đồng hồ cát” hoặc các trường hợp chèn ép bao rễ nhẹ. Đồng thời chúng ta có thể biết được chính xác vị trí đĩa đệm thoát vị, và thể thoát vị ra sau hay sau bên

4.3 Chụp cộng hưởng từ (MRI):
Chụp cộng hưởng từ (MRI): Là xét nghiệm số 1 để đánh giá về cột sống đặc biệt là trong chẩn đoán thoát vị đĩa đệm, cho phép loại trừ các tổn thương bên trong tủy sống.

5. Phân loại thoát vị đĩa đệm:

5.1 Phân loại theo sự liên quan với rễ thần kinh và tủy sống:

Rothman và Marvel đã chia thoát vị đĩa đệm ra sau thành 3 loại:

            - Loại thoát vị trung tâm chủ yếu chèn ép tủy sống gây bệnh lý tủy.

            - Loại thoát vị cạnh trung tâm chèn ép cả tủy và rễ thần kinh gây ra bệnh lý tủy rễ.

            - Loại thoát vị cạnh bên còn gọi là thoát vị lỗ ghép chủ yếu chèn ép rễ thần kinh gây ra bệnh lý rễ.

Cách phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong lâm sàng.

5.2 Phân loại theo liên quan với dây chằng dọc sau:

Wegeber chia các thoát vị đĩa đệm thành 2 loại:

            - Thoát vị nằm trước dây chằng dọc sau: Dây chằng dọc sau còn nguyên vẹn chưa bị rách.

            - Thoát vị qua dây chằng dọc sau: Dây chằng dọc sau bị rách, khối thoát vị chui qua chỗ rách vào trong ống sống.

Wood chia thoát vị đĩa đệm làm 4 loại dựa trên sự tương quan giữa khối thoát vị với vòng sợi, và dây chằng dọc sau:

            - Loại 1: Phồng đĩa đệm (normal bulge), vòng sợi chưa bị rách hết, nhân nhày vẫn còn nằm trong vòng sợi nhưng lệch vị trí.

            - Loại 2: Lồi đĩa đệm hay dạng tiền thoát vị (protrusion), khối thoát vị đã xé rách vòng sợi nằm ở trước dây chằng dọc sau.

            - Loại 3: Thoát vị thực thụ (extrusion), khối thoát vị đã chui qua dây chằng dọc sau, nhưng còn dính liền với phần nhân nhày nằm phía trước.

            - Loại 4: Thoát vị đĩa đệm có mảnh rời (sequestration), là có một phần khối thoát vị tách rời khỏi phần đĩa đệm nằm trước dây chằng dọc sau, có thể di trú đến mặt sau thân đốt sống. Mảnh rời này thường nằm ngoài màng cứng, nhưng đôi khi xuyên qua màng cứng gây chèn ép tủy.

            Cách phân loại này liên quan chặt chẽ đến chỉ định và kết quả điều trị. Vì tỷ lệ bệnh nhân có phồng và lồi đĩa đệm tuy rất cao nhưng không nhất thiết phải điều trị phẫu thuật. Ngược lại, kết quả phẫu thuật lại đạt cao nhất ở nhóm thoát vị có mảnh rời và tiếp đến là thoát vị đĩa đệm thực thụ.

            Ngoài ra còn có kiểu phân loại thoát vị theo vị trí: Ra sau, ra trước, vào thân đốt (thoát vị Schmol).

6. Các thể thoát vị:

6.1 Thoát vị đĩa đệm ra sau:

            - Là thể thường gặp nhất, khởi phát cấp tính sau chấn thương hoặc gắng sức đột ngột.

            - Có hội chứng cột sống và hội chứng rễ.

            - Đau giảm khi nằm nghỉ.

            - Trường hợp đau một rễ: Thường gặp trong thoát vị đĩa đệm sau bên (cạnh trung tâm) do đĩa đệm ngay ở tầng trên nó bị thoát vị. Ví dụ: Tổn thương rễ L2 do đĩa đệm L1-L2 thoát vị chèn ép, rễ S1 do đĩa đệm L5-S1 chèn ép. Riêng rễ L5 do thoát vị đĩa đệm ở cả L4-L5 và L5-S1 chèn ép.

            Trường hợp thoát vị đĩa đệm vào lỗ ghép: Rễ thần kinh cùng tầng đĩa đệm sẽ bị chèn ép. Hình ảnh thoát vị đĩa đệm thấy rõ trên phim chụp bao rễ chếch 3/4.

            - Trường hợp đau hai rễ:

                        + Đau hai rễ ở hai bên: Thường gặp trong thoát vị đĩa đệm ra sau giữa. Triệu chứng đau rễ thường tăng giảm không đều nhau ở hai bên, lúc bên này đau tăng, lúc khác bên kia lại đau nặng hơn, do đó tư thế chống đau cũng thay đổi bên.

                        + Đau hai rễ kề nhau cùng bên: Thường là rễ L4 và L5, hoặc L5 và S1. Khi đó chẩn đoán định khu cần phải được cân nhắc kỹ, có thể phải dựa vào chụp bao rễ thần kinh hoặc chụp MRI, vì có mấy khả năng xảy ra:

                        + Thoát vị hai đĩa đệm cùng một lúc.

                        + Thoát vị một đĩa đệm L5-S1 nhưng chèn ép cả hai rễ L5 và S1.

                        + Thoát vị đĩa đệm nhưng có phản ứng viêm ngoài màng cứng gây nên viêm rễ thần kinh kế cận ở phía trên hay phía dưới.

            - Trường hợp đau nhiều rễ: Ít gặp, nhưng quan trọng vì đó là sự khởi đầu của hội chứng đuôi ngựa do khối lượng thoát vị lớn (thể giả u chèn ép đuôi ngựa).

                        + Hội chứng đuôi ngựa toàn bộ: Do thoát vị đĩa đệm L1-L2 và L2-L3 (hiếm gặp).

                        + Hội chứng giữa thắt lưng - cùng: Do thoát vị đĩa đệm L3-L4 và L4-L5.

                        + Hội chứng cùng: Do thoát vị đĩa đệm L5-S1.

            - Trường hợp thoát vị đĩa đệm ra sau đã làm đứt đây chằng dọc sau do khối thoát vị lớn, có thể:

                        + Thoát vị đĩa đệm chưa xuyên màng cứng: Khối thoát vị chưa tách rời hoặc đã tách rời phần còn lại tròn khoang gian đốt sống, di chuyển lên trên hoặc xuống dưới.

                        + Thoát vị đĩa đệm xuyên màng cứng: Ít gặp, mảnh vỡ của đĩa đệm thường dính vào rễ thần kinh, đôi khi phải dựa vào phẫu thuật.

            Các thể này chẩn đoán định khu dựa vào lâm sàng rất dễ bị nhầm lẫn, nên phải dựa vào phim chụp bao rễ hay phim chụp MRI để chẩn đoán.

6.2 Thoát vị đĩa đệm ra trước:

            - Loại thoát vị này thường khởi phát đột ngột sau chấn thương cột sống hoặc vận động mạnh đột ngột trong lúc cột sống thắt lưng đang ở tư thế ưỡn quá mức. Tuy nhiên thoát vị đĩa đệm ra trước có thể xảy ra từ từ do cột sống luôn ở tư thế bất lợi kéo dài của nghề nghiệp, trên cơ sở thoái hóa đĩa đệm:

            - Lâm sàng:

                        + Có hội chứng cột sống.

                        + Không có hội chứng rễ.

                        + Giai đoạn đầu thì đau lưng cấp (lumbago), sau chuyển thành đau lưng mạn tính (lombalgie), hay tái phát, đau tăng khi vận động cột sống.

6.3 Thoát vị đĩa đệm vào phần xốp thân đốt (kiểu Schmorl)

            - Là kiểu thoát vị điển hình của thoái hóa đĩa đệm. Hay gặp ở lứa tuổi già thoát vị đĩa đệm kiểu Schmorl ở các đĩa đệm liên tiếp nhau, nhất là ở các đĩa đệm lưng và thắt lưng, tạo nên sự thay đổi đường cong sinh lý, giảm chiều cao cột sống. ở lứa tuổi trẻ ít gặp thoát vị kiểu này, chỉ xảy ra trên cơ sở chấn thương hoặc trọng tải quá mức

            - Đặc điểm lâm sàng:

                        + Khởi phát từ từ do nguyên nhân vi chấn thương.

                        + Đau thắt lưng ít dữ dội, thường thoái lui nhanh chóng sau vài ngày nhưng dễ tái phát với biểu hiện đau thắt lưng mạn.

                        + Có hội chứng cột sống, không có hội chứng rễ.

                        + Thoát vị đĩa đệm chỉ có thể chẩn đoán bằng chụp đĩa đệm.

6.4 Các giai đoạn thoát vị đĩa đệm

Arseni (1974) phân loại thoát vị đĩa đệm theo 4 giai đoạn tiến triển như sau:

            - Giai đoạn 1 (giai đoạn đầu của thoái hóa đĩa đệm): Nhân nhầy biến dạng bắt đầu xuất hiện vài chỗ đứt rách nhỏ ở phía sau của vòng sợi và nhân nhầy ấn lõm vào chỗ khuyết này. Hình ảnh này chỉ thấy trên phim chụp đĩa đệm và MRI.

            - Giai đoạn 2 (lồi đĩa đệm): Nhân nhầy bị lồi vào phía vòng sợi bị suy yếu, đĩa đệm phình ra, nhất là phía sau. Vòng sợi có nhiều chỗ rạn, rách rõ rệt nhưng chưa xâm phạm hết chiều dày của vòng sợi. Bắt đầu xuất hiện giảm chiều cao khoang gian đốt sống, hình thành thoát vị đĩa đệm, ở giai đoạn này đã có dấu hiệu tổn thương khá phong phú. Biểu hiện lâm sàng bằng đau lưng cục bộ, đôi khi có kích thích rễ thần kinh.

            - Giai đoạn 3 (thoát vị đĩa đệm thực thụ): Đứt rách hoàn toàn các lớp của vòng sợi, tổ chức nhân nhầy cùng với các tổ chức khác của đĩa đệm thoát ra khỏi khoang gian đốt, hình thành một khối thoát vị đĩa đệm. Giai đoạn này chụp đĩa đệm và MRI cho thấy thoát vị nhân nhầy đã gây đứt dây chằng dọc sau. Các triệu chứng lâm sàng của hội chứng rễ thần kinh xuất hiện và có thể chia làm 3 mức độ:

                        + Kích thích rễ.

                        + Chèn ép rễ (còn một phần dẫn truyền thần kinh).

                        + Mất dẫn truyền thần kinh.

            - Giai đoạn 4 (hư đĩa đệm khớp đốt sống): Nhân nhầy bị biến dạng, xơ hóa, vòng sợi bị vỡ, rạn, rách nhiều phía. Giảm rõ chiều cao khoang gian đốt sống, hư khớp đốt sống, giữa các mấu khớp mọc đai xương và ở bờ viền của thân đốt sống, về lâm sàng thường là đau thắt lưng mạn tính hay tái phát, có thể có hội chứng rễ nặng do chèn ép rễ trong lỗ ghép đã bị hẹp bởi các biến đổi thứ phát của

7. Điều trị thoát vị đĩa đệm:

-  Nghỉ ngơi: Trong giai đoạn cấp của bệnh thì nằm nghỉ là chính.

            + Nằm ngữa trên giường có mặt phẳng cứng ( tuyệt đối không nằm nệm);

            + Co nhẹ hai khớp gối và hang nhằm làm giảm áp lực nội đĩa đệm và làm chùng khối cơ thắt lưng.

            + Có thể nằm 2-3 tuần nếu nặng, bình thường phải 01 tuần.

            + Sau đó có thể vận động nhẹ nhàng bằng các bài tập thể dục, nhưng tuyệt đối không được cúi người nâng vật nặng, tránh mang xách không cân đối làm lệch người, hoặc lao động nặng.

            + Sau 6 tháng có thể sinh hoạt và vận động bình thường.

-  Vật lý trị liệu: Giảm đau bằng chườm nóng ( Đông y thường chườm bằng lá ngải sao nóng rất hiệu quả ) hoặc dùng điện châm, châm cứu, laser …

-  Dùng thuốc: Các thuốc thường dùng giảm đau, chống viêm như aspirin, paracetamol kết hợp với các thuốc chống viêm, giãn cơ, an thần nhẹ,vitamin nhóm B.

-  Can thiệp ngoại khoa:  Kéo giãn cột sống thắt lưng và nắn chỉnh cột sống, tiêm thuốc vào đĩa đệm được chỉ định và thực hiện ở các đơn vị chuyên khoa về xương khớp.

            + Phẩu thuật: Mổ thoát vị khi các phương pháp điều trị nội khoa không hiệu quả  hoặc thoát  vị gây chèn ép các rễ thần kinh chi phối vận động các vùng tương ứng gây biến chứng như bí đại tiểu tiện, liệt chi dưới … hoặc điều trị nội khoa không kết quả.

-  Trường hợp đau cấp và đau nhiều nằm nghỉ trên giường từ 1-2 ngày và lấy lại các hoạt động nếu có thể để tránh teo cơ và yếu cơ lưng.

8. Phòng bệnh:

Các tư thế sinh hoạt, lao động, nghỉ ngơi không đúng đều là nguyên nhân dẫn tới bệnh và làm bệnh nặng thêm. Do vậy, nên phòng ngừa chúng ta cần chú ý sửa những thói quen đi đứng không đúng cũng như chú ý thực hiện tốt các vấn đề sau :

            - Điều trị các chứng bệnh gây ảnh hưởng xấu đến đĩa đệm như: Các bệnh vẹo cột sống, chân ngắn chân dài, bụng phệ, thừa cân, béo phì, uốn cột sống quá mức, gù vẹo cột sống do chấn thương.

            - Ngồi:  Tránh ngồi một cách gò ép vì đó là cơ chế chung gây tổn thương đĩa đệm, nhất là khi ngồi cúi ra trước thì làm áp lực đĩa đệm tăng cao dễ tổn thương.

            - Đứng: Đưng lom khom lâu ( cuốc đất,cấy lúa  …) sẽ tác động xấu tới đĩa đệm, do vậy khi làm các công việc này nên dùng dụng cụ có cán dài. Không nên đứng nghiêng cũng làm biến dạng cột sống, làm các đĩa đệm chịu một lực không đều và bị tổn thương. 

Cũng không nên đứng lâu một vị trí mà nên đi lại, đánh tay, nhún người… làm dao động áp lực đĩa đệm, thúc đẩy trao đổi dịch thể trong khoang này phòng thoái hóa đĩa đệm.

            - Tư thế: Tránh tư thế ưỡn quá mức khi đứng ( như đi guốc, giày cao gót, làm việc với cao hơn tầm đầu, đi xuống dốc …). Tư thế đúng là chân thẳng, đầu và thân thẳng, hai vai hơi mở ra sau, ngực ưỡn căng ra trước.

            - Nằm: Tránh nằm sấp vì ảnh hưởng xấu đến đĩa đệm. Nằm nệm mềm làm cột sống bị biến dạng nên dễ bị tổn thương đĩa đệm

            - Tập thể dục thể thao: Mục đích là làm chắc hơn các cơ và dây chằng nhằm ổn định tốt các đốt sống và đĩa đệm, hạn chế đi lệch
   
Tuy nhiên, tùy theo cơ thể, năng khiếu, sở thích và các bệnh khác có hay không mà tập những môn thể thao khác nhau và nhất thiết phải có huấn luyện  viên hướng dẫn nhằm tránh tập sai dẫn đến tác dụng ngược.Những động tác làm ảnh hưởng xấu đến cột sống, chẳng hạn như chơi tạ không đúng cách có thể gây hư đốt sống; chơi bóng chuyền nếu tập quá mức, sai phương pháp sẽ gây các vi chấn thương lên đĩa đệm.
9 Chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng

- Bổ sung cá hồi, cá ngừ. Đây là những loại cá tốt cho xương khớp vì chứa acid béo omega-3. Chất này sau khi đi vào cơ thể sẽ biến đổi thành prostaglandin, hoạt chất giữ vai trò chủ yếu trong chuỗi phản ứng kháng viêm.

- Gia tăng khẩu phần ăn có tôm, cua đồng… vì chúng chứa nhiều calci giúp hệ xương khớp trong cơ thể bạn thêm dẻo dai và chắc khỏe.

- Hạn chế những thực phẩm giàu đạm, chất béo. Nếu ăn quá nhiều đạm sẽ làm tăng sự đào thải calci qua thận, tăng nguy cơ gãy xương.

- Gia tăng dùng nước hầm từ xương vì chúng chứa nhiều glucosamine và chondroitin. Đây là những hợp chất tự nhiên có tác dụng giúp sụn chắc khỏe.

- Tăng cường ăn rau củ tốt cho xương, khớp như: cà rốt, súp lơ, nấm hương, mộc nhĩ… thường giàu vitamin A, E là những nhân tố cần thiết để bảo vệ bao khớp và đầu xương, chống lão hóa…

- Nên bổ sung thêm sữa đậu này, ngũ cốc vốn có nhiều vitamin, khoáng chất và calci vào bữa ăn để hệ xương khớp lâu bị lão hóa.

Tạo thói quen tốt

- Nên tạo thói quen tập các môn thể dục phù hợp với sức khỏe và lứa tuổi để hệ xương thêm mềm dẻo, các khớp cũng linh hoạt hơn.

- Làm việc trong tư thế lưng thẳng, vai đều cân đối, mắt nhìn thẳng.

- Để nâng một vật nặng, không nên nghiêng thân về phía trước và tránh cử động xoắn lệch người làm mất thăng bằng gây tác dụng không tốt với khung xương.

10. Một số thông tin hỏi - đáp:

Câu hỏi:  Có thể thay đĩa đệm được không?

Trả lời:

            Chỉ định: Chỉ những bệnh nhân bị bệnh lý về đĩa đệm như thoát vị đĩa đệm gây chèn ép tủy sống, hẹp ống sống mới có thể được điều trị bằng kỹ thuật thay đĩa đệm.

            Chống chỉ định cho nhóm bệnh nhân thoái hóa cột sống cổ nặng, hẹp ống sống cổ, dây chằng lỏng lẻo...

            Với những bệnh nhân có bệnh lý phù hợp, các bác sĩ sẽ lấy đĩa đệm thoát vị ra ngoài, giải phóng chèn ép tủy sống rồi đặt đĩa đệm nhân tạo vào vị trí đã lấy đĩa đệm cũ đi. Đĩa đệm nhân tạo có các cỡ, đặt vào cột sống kiểu cài răng lược nên không lo ngại tình trạng đĩa đệm nhân tạo bị thừa ra ngoài gây thoát vị trở lại. Sau ca mổ kéo dài 1giờ30-2giờ và quá trình điều trị sau mổ khoảng một tuần, bệnh nhân sẽ đeo nẹp cổ trong khoảng một tháng. Với những bệnh nhân được tập phục hồi chức năng sau mổ đúng hướng dẫn, quá trình hồi phục sẽ tốt hơn.

            Người sử dụng đĩa đệm nhân tạo có thể nghiêng, ngửa hay cúi như bình thường.

            Hiện tại, giá một đĩa đệm nhân tạo đặt mua từ nước ngoài về đến VN khoảng 3.600 USD, đây là chi phí quan trọng nhất cho những bệnh nhân có nhu cầu phẫu thuật. Còn lại Bệnh viện Việt Đức thu viện phí như thông thường (tiền mổ, tiền giường nằm). So với Thái Lan và Singapore, chi phí một ca phẫu thuật thay thế đĩa đệm nhân tạo tại Bệnh viện Việt Đức rẻ hơn (theo ông Nguyễn Văn Thạch - phó giám đốc Bệnh viện Việt Đức thì rẻ bằng 1/4-1/2).

Câu hỏi: Thoát vị đĩa đệm có dẫn đến yếu sinh lý?

Tôi có tiền sử thoát vị đĩa đệm, đã từng phẫu thuật 2 lần. Bác sĩ cho tôi hỏi, thoát vị đĩa đệm có dẫn đến yếu sinh lý và hiếm muộn không?

Trả lời:

            Thoát vị đĩa đệm ở cột sống là một bệnh thường gặp, nguyên nhân thường do các đĩa đệm bị thoái hóa, gặp nhiều ở tuổi trung niên.

            Ngoài ra thoát vị đĩa đệm còn xảy ra ở người trẻ do sinh hoạt lao động, hoạt động thể dục thể thao, tư thế ngồi làm việc không đúng, do chấn thương… tạo thuận lợi cho đĩa đệm thoát ra ngoài gây chèn ép dây thần kinh và tủy sống, vị trí thường gặp là cột sống cổ và thắt lưng.

            - Thoát vị đĩa đệm ở cột sống cổ: làm mỏi cơ vùng vai, tê và đau một tay hoặc hai tay chạy dọc từ vùng cột sống cổ xuống mặt ngoài bàn tay.

            - Thoát vị đĩa đệm ở cột sống thắt lưng: gây mỏi cơ, tê và đau một chân hoặc hai chân tùy theo đĩa đệm chèn ép một hoặc hai bên chạy dọc từ vùng thắt lưng xuống bờ ngoài bàn chân .

            Điều trị chủ yếu nội khoa và tập vật lý trị liệu, can thiệp phẫu thuật khi khi đĩa đệm thoát vị có mảnh vỡ hoặc thoát vị đĩa đệm gây hội chứng chùm đuôi ngựa có biểu hiện bí đại, tiểu tiện, mất cảm giác đau xung quanh hậu môn và bộ phận sinh dục, có liệt chi, điều trị nội khoa không có kết quả.

            Nếu điều trị thoát vị đĩa đệm của bạn được khống chế, bạn vẫn có thể sinh hoạt tình dục và có con bình thường, nhưng nếu thoát vị chèn ép gây hội chứng chùm đuôi ngựa có thể sẽ ảnh hưởng đến việc giao hợp hoặc yếu sinh lý. Việc hiếm muộn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố của người vợ nữa bạn ạ.

            Ngày nay, với sự tiến bộ của y học có nhiều phương pháp giúp bạn điều chỉnh được vấn đề này. Vì vậy, bạn không nên quá lo lắng nhé.

Theo alobacsi.cn

Câu hỏi 3: Luyện tập và dinh dưỡng sau mổ đĩa đệm

Mẹ tôi năm nay 56 tuổi, bị lệch đĩa đệm L4,L5. Đã phẫu thuật mổ hở được 20 ngày, vết thương được cắt chỉ và đang liền.

Tuy nhiên, do mẹ tôi bị đau đầu và huyết áp thấp, mỗi khi đứng lên thì đầu óc lại quay cuồng nên sau 15 ngày mẹ tôi mới tập đi.

Mẹ tôi đi bên chân trái yếu hơn chân phải, khi đi trông như vạt tép. Trong lúc đi đau nhiều ở đốt sống cuối. Mẹ tôi còn bị loãng xương. Vậy xin hỏi BS mẹ tôi cần có chế độ tập luyện và dinh dưỡng như thế nào cho hợp lý,  cách giữ gìn vệ sinh sau mổ?

Trả lời:

            - Về vấn đề săn sóc vết thương sau mổ, hiện tại sau 20 ngày vết thương đã lành nên không cần phải thay băng hàng ngày nữa, cứ để tự nhiên và tắm rửa bình thường.

            Thông thường sau khi mổ thoát vị đĩa đệm thì các BS hay cho bệnh nhân nằm nghỉ ngơi khoảng 1 tuần rồi tập đi. Mức độ hồi phục tùy thuộc tổn thương chèn ép thần kinh trước mổ năng hay nhẹ, thần kinh càng bị chèn ép nặng trước mổ thì thời gian hồi phục sau mổ càng lâu.

            Nếu mẹ bạn bị chứng tụt huyết áp tư thế đứng ( mỗi lần chuyển tư thế từ nằm sang ngồi sẽ thấy choáng váng, cảm giác chóng mặt) thì không nên ngồi dậy đột ngột mà cần có những bài tập chân tay, và vận động toàn thân trước khi ngồi dậy.

            Số lượng lần và thời gian tập cho mỗi lần tùy thuộc vào sức khỏe của từng bệnh nhân, nếu mẹ bạn cảm thấy còn yếu thì tập ít và tăng lên từ từ, khi đi sẽ còn đau vùng mổ vì tình trạng viêm sau mổ vẫn còn nên mẹ bạn cần mang thêm nẹp lưng khi đi.

            Còn về vấn đề bài tập thì bạn nên đưa mẹ bạn tới khoa vật lý trị liệu để được hướng dẫn đúng các bài tập, cách tập, thời gian.. và khi đó các BS sẽ tùy theo tình trạng sức khỏe của mẹ bạn mà sẽ chỉ định số lần và thời gian chính xác.

            Vấn đề ăn uống sau mổ: không kiêng cữ gì cả, có chăng là nên ăn theo 1 chế độ dinh dưỡng dành chung cho mọi người mà các BS chuyên khoa về dinh dưỡng hay chỉ dẫn như ăn cá nhiều, tăng khẩu phần rau xanh, cân đối số lượng protid có trong thịt động vật và thực vật ( đậu phụ..).

            Mẹ bạn lớn tuổi, hạn chế vận động do đau nên bộ xương cũng không được tốt do vậy cần có chế độ cung cấp calci hàng ngày từ thuốc hoặc từ sữa. hy vọng chúng tôi giúp bạn giải tỏa phần nào nỗi lo và chúc mẹ bạn mau bình phục.

 Theo tuoitre.vn

*Các phương pháp ngoại khoa:

1.  Ứng dụng vi phẫu thuật để loại bỏ nhân đệm ( microdiscectomy):

            Hiện nay, phương pháp này được áp dụng rộng rãi như là một “tiêu chuẩn vàng” trong điều trị thoát vị đĩa đệm . Đây là một phương pháp sử dụng kính vi phẫu thuật để loại bỏ nhân đệm nhằm giải phóng rễ thần kinh. Thật ra, phẫu thuật loại bỏ nhân đệm đã được áp dụng từ lâu  khi chưa có kính vi phẫu ra đời  hay còn được gọi là phẫu thuật kinh điển (traditional surgery discectomy ). Tuy nhiên, phẫu thuật này hiện nay vẫn còn được áp dụng mặc dù kính vi phẫu thuật đã ra đời từ cuối thập niên 60, nhưng mãi đến thập niên 80 kính vi phẫu thuật mới được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực khác của ngoại khoa thần kinh. Còn vi phẫu thuật loại bỏ nhân đệm (microdiscectomy ) đã được áp dụng khá rộng rãi từ cuối thập niên 90 và hiện nay phương pháp này được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới với kết quả rất tốt, đã được nhiều tác giả đề cập như Osenbach (4). Với phương pháp này, các phẫu thuật viên quan sát rất rõ tủy sống, rễ thần kinh, các tĩnh mạch quanh màng cứng và nhân đệm, có thể hạn chế đến mức thấp nhất những tai biến có thể xảy ra trong phẫu thuật. Ngày nay, còn sử dụng hệ thống ống nong kết hợp với kính vi phẫu (tubular microdiscectomy) để giảm tối thiểu thương tổn cho bệnh nhân. Tại Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn Premier, tất cả các trường hợp thoát vị đĩa đệm thắt lưng đều được phẫu thuật dưới kính vi phẫu.

            Đối với phương pháp vi phẫu thuật để lấy nhân đệm, thời gian mổ ngắn, sau mổ 24 giờ bệnh nhân có thể ngồi dậy và đi lại để sinh hoạt cá nhân, và chỉ mất 3-4 ngày nằm viện sau mổ.

            Đối với những trường hợp thoát vị đĩa đệm thắt lưng do thấp khớp mãn tính, nhân đệm lồi không điển hình nhưng cũng có kèm đau rễ ở mức độ nhẹ, thường kết quả phẫu thuật  mang lại hiệu quả thấp. Vì trên cơ địa của bệnh thấp khớp mãn tính phải điều trị lâu dài tại chuyên khoa khớp.

            Còn đối với những trường hợp có thoái hóa cột sống nặng kèm thoát vị đĩa đệm thắt lưng, thường sau phẫu thuật đôi khi vẫn còn đau cột sống do ảnh hưởng của bệnh lý thoái hóa cũ.

2.  Lấy nhân đệm qua nội soi (neuroendoscopic discectomy)

            Nội soi trong ngành phẫu thuật thần kinh đã được ứng dụng từ thập niên 20-30 nhưng đây là thời kỳ còn rất mới, chỉ áp dụng một số trường hợp ở não nhưng tỉ lệ biến chứng và tử vong cao. Vả lại, thời kỳ này các trang thiết bị dùng trong nội soi còn nhiều nhược điểm nên khả năng ứng dụng còn nhiều hạn chế.

            Mãi đến thập niên 70, một số ứng dụng nội soi  có nhiều tiến bộ hơn để sinh thiết một vài loại u trong não thất . Nhưng từ thập niên 80, nhiều trang thiết bị nội soi được cải tiến để áp dụng vào phẫu thuật thần kinh đem lại hiệu quả đáng khích lệ hơn.

            Đến thập niên 90, nội soi đã áp dụng phổ biến trong các lĩnh vực ngoại thần kinh, trong đó có ứng dụng nội soi để điều trị thoát vị đĩa đệm thắt lưng, một loại bệnh lý rất phổ biến hiện nay. Về phương pháp nội soi và phương pháp vi phẫu thuật để loại bỏ nhân đệm được coi như là hai phương pháp phổ biến nhất hiện nay. Kết quả điều trị của hai phương pháp này hoàn toàn giống nhau như nhận định của Tanabe (6) và Imae (2). Tuy nhiên, nội soi để lấy nhân đệm vẫn còn nhiều hạn chế so với phương pháp lấy nhân đệm vi phẫu. Trong một số trường hợp sau đây không thể sử dụng được nội soi:

- Bệnh nhân đã có phẫu thuật cột sống thắt lưng trước đây

- Thoát vị đĩa đệm nhiều tầng và thoát vị trung tâm

                        - Hẹp ống sống kèm theo

                        - Hẹp lỗ liên hợp

                        - Hẹp ngách bên

                        - Hẹp khoang đĩa đệm và hẹp lỗ liên hợp

                        - Thoát vị đĩa đệm tái phát và xơ hóa

                        - Mất vững cột sống

Câu hỏi: Chân bị teo sau khi mổ thoát vị đĩa đệm, phục hồi được không?

Bị thoát vị đĩa đệm ở lưng và đã mổ nội soi nhưng giờ một chân lại bị teo nhỏ đi. Xin hỏi bác sĩ như thế có nguy hiểm không?

Trả lời:

            Đĩa đệm nằm ở khe giữa hai đốt sống, có lớp vỏ sợi bọc nhân nhày ở trung tâm. Vì lý do này cột sống bị thoái hóa, chấn thương, lao động nặng... nhân nhày qua chỗ rách của đĩa đệm thoát vị ra ngoài chui vào ống sống, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống và đau theo rễ thần kinh.

             Nếu thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng sẽ đau dây thần kinh tọa, lâu dài không điều trị dẫn đến teo cơ chân tương ứng.

             Như vậy, có thể đã bị teo cơ trước khi mổ, và chỉ định mổ quá trễ, nên không phục hồi được tình trạng teo cơ. Cần phải đo điện cơ, chụp MRI để xác định mức độ, vị trí tổn thương, mức độ teo cơ... Em nên khuyên chú đi khám lại ở chuyên khoa Nội thần kinh hoặc Chấn thương Chỉnh hình em nhé!