I. Khái niệm:

 

           Suy dinh dưỡng do thiếu protein- năng lượng (thường gọi là suy dinh dưỡng) là tình trạng thiếu dinh dưỡng quan trọng và phổ biến ở trẻ em nước ta. Biểu hiện của suy dinh dưỡng là trẻ chậm lớn và thường hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy và viêm đường hô hấp, trẻ bị giảm khả năng học tập, năng suất lao động kém khi trưởng thành.

 

II. Nguyên nhân SDD và các yếu tố nguy cơ:

 

1. Nguyên nhân:

 

* Dinh dưỡng: Nguyên nhân này chiếm 60% SDD.

 

           - Do nuôi dưỡng kém, như mẹ không có sữa hoặc thiếu sữa, phải nuôi sữa ngoài…Cho trẻ ăn dặm quá sớm (dưới 4 tháng) và cho ăn không đủ chất dinh dưỡng, cai sữa cho trẻ quá sớm (dưới 1 năm)

           Tình trạng kiêm khem, bắt trẻ ăn cháo muối, hoặc ăn bột, ăn cháo với nước mắm, mì chính kéo dài trong và sau các đợt bị tiêu chảy.

 

* Nhiễm khuẩn:

 

           - Nhiễm khuẩn tiên phát: Hay gặp ở trẻ sau khi bị ho gà, sởi, lỵ hay lao sơ nhiễm, nhiễm trùng đường tiểu, phế quản phế viêm tái diễn, nhiễm trùng da kéo dài hay tái diễn, nhiễm ký sinh trùng đường ruột.

        - Nhiễm khuẩn thứ phát: Trẻ bị SDDPNL (suy dinh dưỡng protein - năng lượng ) rất dễ bị nhiễm trùng và làm cho tình trạng này càng nặng hơn. Đây là một vòng xoắn bệnh lý.

* Các nguyên nhân khác: Trẻ bị dị tật bẩm sinh như sứt môi, hở hàm ếch, hẹp phì đại môn vị, tim bẩm sinh, Langdon Down...

 

2. Yếu tố nguy cơ: Yếu tố này có thể gọi là nguyên nhân sâu xa hay gián tiếp được chia ra làm 2 nhóm: nhóm y tế và nhóm xã hội.

 

* Yếu tố xã hội:

 

           - Điều kiện kinh tế xã hội thấp: Thiên tai, chiến tranh.

        - Trình độ văn hoá thấp, thiếu kiến thức về dinh dưỡng và y tế. Xã hội còn những còn những tập quán lạc hậu về dinh dưỡng và chăm sóc trẻ, nhất là khi trẻ bị ốm như: Ăn cháo muối lúc ỉa chảy; bị sởi kiêng nước, kiêng ăn; cúng bái để điều trị các bệnh nhiễm trùng.

        - Tổ chức y tế của xã hội yếu kém: Không thực hiện được các chương trình kiểm soát và phòng chống bệnh một cách có hiệu quả.

 

* Nhóm y tế:

 

           - Trẻ bị nhiễm trùng tái diễn hay kéo dài.

        - Trẻ đẻ non hay nhẹ cân khi sinh, hay sinh đôi, sinh ba.

        - Sai lầm về chế độ ăn (không được bú mẹ hay ăn dặm sớm...).

        - Mồ côi mẹ, mẹ sống một mình, trong gia đình đông con hoặc con so ở bà mẹ trẻ tuổi.

        Theo điều tra của Uỷ ban Bảo vệ Bà mẹ Trẻ em Trung ương (UBBVBMTETƯ) thì nguyên nhân SDD  của trẻ em Việt Nam là:

        - Thiếu kiến thức về nuôi dưỡng và chăm sóc của cha mẹ và người nuôi trẻ.

        - Chế độ ăn của trẻ không đủ về số lượng và không đảm bảo chất lượng.

        - Chế độ chăm sóc bà mẹ - trẻ em, phòng và điều trị bệnh chưa tốt.

 

III. Phân loại:

 

           Bảng theo dõi sự phát triển của trẻ (Chi tiết)

           Tình trạng suy dinh dưỡng được chia làm 3 cấp độ tùy thuộc vào trọng lượng cơ thể trẻ. (Xem bảng trên để so sánh)

           - Suy dinh dưỡng độ 1 hay suy dinh dưỡng nhẹ khi trọng lượng của cơ thể mất đi 10% cân nặng so với bình thường.

           - Suy dinh dưỡng độ 2 hay suy dinh dưỡng bình thường được xác định khi trọng lượng cơ thể chỉ còn 70% so với bình thường, tức là cơ thể đã bị mất 30% trọng lượng.

           - Suy dinh dưỡng độ 3 hay suy dinh dưỡng nặng khi thể trọng cơ thể mất đi chừng 40% cân nặng so với bình thường. Đặc biệt nghiêm trọng là tình trạng suy dinh dưỡng nặng thể phù do thiếu hụt các thành phần dinh dưỡng chủ yếu sẽ gây ra nhiều biến cố, có thể dẫn tời nhiễm trùng và thường có tỷ lệ tử vong rất cao.

 

IV. Triệu chứng lâm sàng:

 

           Ở giai đoạn đầu triệu chứng rất nghèo nàn, chỉ biểu hiệu bằng sự sụt cân hay không tăng cân; rồi dần dần cơ trở nên nhão, da xanh hơn trước, trẻ kém linh hoạt. Sau đó nếu không điều trị kịp thời và hợp lý sẽ chuyền dần sang thể nặng.

Có 3 thể lâm sàng nặng.

 

1. Suy dinh dưỡng thể teo đét (thể Marasmus, thể xác ướp):

 

           Ở thể này trẻ bị đói thật sự, từ glucid, lipid rồi protid; thiếu toàn bộ năng lượng. Trẻ phải huy động toàn bộ chất dự trữ do đó trẻ mất hết lớp mỡ dưới da.

 

- Thể teo đét thường gặp ở trẻ:

 

           + Trẻ đẻ ra không có sữa mẹ, phải ăn nước cháo loãng thay sữa.

        + Trẻ bú mẹ nhưng lúc ăn bổ sung không đủ chất nhất là thiếu lipid.

        + Trẻ bị bệnh và kiêng ăn trong thời gian mắc bệnh.

        + Trẻ sốt kéo dài

 

- Biểu hiện lâm sàng:

 

        + Cân nặng/tuổi còn < 60%.

        + Gầy đét da bọc xương, lớp mỡ dưới da mất hết, da khô, tóc khô, teo cơ, nét mặt như cụ già, tiếng khóc yếu, tinh thần lờ đờ chậm phản ứng, chậm phát triển thể chất và tinh thần.

        + Rối loạn tiêu hóa: Nôn chớ, ỉa phân sống có nhầy hoặc ỉa phân dơi (2-3 ngày ỉa 1 lần số lượng phân rắn), phân tanh.

        + Thiếu máu nhược sắc.

        + Tinh thần: Mệt mỏi, ít phản ứng với ngoại cảnh, quấy khóc, trương lực cơ thường tăng.

        + Mạch nhanh, chân tay lạnh, hô hấp thở yếu, nhịp thở hơi nhanh.

        + Thường có các triệu chứng nhiễm khuẩn kèm theo.

 

2. Suy dinh dưỡng thể phù (Thể Kwashiorkor): Trẻ ăn quá nhiều chất bột, no giả tạo. Chất lượng thức ăn mất cân bằng giữa glucid và chất đạm: thừa glucid nhưng thiếu lipid và đạm trầm trọng.

        - Thể này thường gặp ở trẻ không có sữa sau đẻ những được nuôi bằng bột khuấy đặc hay khi cai sữa trẻ ăn toàn chất bột. Ở trẻ này lúc ban đầu không có hiện tượng sụt cân nhưng chủ yếu là da xanh, cơ nhão và được gọi là “bé bột”.

 

- Biểu hiện lâm sàng:

 

           + Cân nặng/tuổi còn từ 60 - < 80%.

           + Rối loạn tiêu hóa: Biếng ăn, sợ ăn, nôn ọe, ỉa chảy kéo dài hoặc nhiều đợt ỉa chảy cấp tái phát.

           + Phù dinh dưỡng: Phù bàn chân, bàn tay lan ra toàn thân, phù trắng, phù mềm ấn lõm.

           + Biến loạn sắc tố da: Mảng sắc tố là những chấm đỏ rải rác lan dần rồi tụ lại thành những đám màu nâu sẫm vài ngày sau bong da, để lại lớp da non đỏ, rỉ nước hay gặp ở nách, bẹn, mông.

           + Biến loạn thần kinh, tinh thần: Lúc đầu kích thích sau chuyển sang trạng thái ức chế.

           + Thường kèm theo các triệu chứng thiếu vitaminA, rối loạn nước điện giải, thiếu máu, nhiễm khuẩn, hạ nhiệt độ, hạ đường huyết.

 

3. Thể Marasmus- Kwashiorkor (thể phối hợp hay trung gian):

 

- Triệu chứng lâm sàng thể đét phù (M-KW): Phối hợp cả hai bệnh cảnh kể trên:

         + CN/ T: < 60%.

         + Trẻ phù nhưng lại kết hợp với gầy đét.

         + Kém ăn và hay bị rối loạn tiêu hoá.

- Các triệu chứng kèm trong SDD nặng là nhiễm khuẩn, thiếu máu, thiếu vitamin A, B2, PP, C.

4. Suy dinh dưỡng bào thai: Tất cả trẻ sinh đủ tháng mà cân nặng < 2.500g gọi là SDD bào thai. Đây là thể sớm nhất của bệnh SDD.

        - Nguyên nhân: mẹ tăng cân ít trong thời gian mang thai. Mẹ mắc bệnh mạn tính trong thời gian có thai: bệnh tim mạch, bệnh thận, bệnh phổi và đặc biệt là các bà mẹ bị thiếu máu, SDD.

        - Lâm sàng: SDD bào thai được phân theo 3 mức độ:

                    + Nhẹ: Cân nặng giảm < 2.500g. Chiều cao và vòng đầu bình thường.

                    + Vừa: cân nặng giảm. Chiều cao giảm. Vòng đầu bình thường.

                    + Nặng: giảm cả 3 chỉ số: cân nặng, chiều cao, vòng đầu. Cuống rốn teo nhỏ, vàng.

 

V. Xét nghiệm cận lâm sàng:

 

-  Thiếu máu nhược sắc: Hồng cầu giảm về số lượng và chất lượng. Huyết sắc tố giảm. Thiếu máu do thiếu yếu tố cấu tạo máu: đạm, sắt, acid folic, vitamin B12, ..

-  Thiếu đạm: Protide máu.

   + Trong SDD thể KW thì protide máu toàn phần giảm nhiều. Albumin giảm nặng. TỷA/G<1; globulin bình thường hoặc giảm.

   + Trong SDD thể đét thì protein giảm ít hơn. Tỷ A/G bình thường.

-  Xét nghiệm miễn dịch: MD qua trung gian tế bào bị giảm nhiều: Số lượng lympho máu giảm, mất phản ứng bì. Đặc biệt rõ trong thể Kwashiorkor, còn trong thể Marasmus thì biến đổi nhẹ hơn.

-  Lipid máu: Chất béo trong máu đều bị giảm: lipid, cholesterol, triglycerid.

-  Xét nghiệm nội tiết tố: Khả năng dung nạp glucose giảm, cortisol huyết tương tăng, T3 giảm.

-  Rối loạn nước và điện giải: Rối loạn phân phối nước: giữ nước ở gian bào trong thể phù và thiếu nước mãn trong thể teo đét. Na và K giảm nhất là trong thể KW.

-  Urê và creatinin niệu đều giảm.

-  X quang tim phổi: Hình tim nhỏ.

 

VI. Điều trị suy dinh dưỡng:

 

1. Điều trị suy dinh dưỡng bào thai:

 

           - Cho ăn sớm, tốt nhất là cho bú sữa non, bảo đảm thân nhiệt, cho thêm vitamin D. Nếu có triệu chứng tetanie thì cho Ca.

 

2. Điều trị suy dinh dưỡng nhẹ và trung bình:

 

           - Đối với trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi: Cần đánh giá nuôi dưỡng trẻ xem đã hợp lý chưa? Nếu trẻ có vấn đề nuôi dưỡng chưa hợp lý: Cần tham vấn cho bà mẹ về chế độ dinh dưỡng tại nhà và bổ sung thêm các sinh tố và chất khoáng, đặc biệt là vitamin A, D, B, sắt, acid folic, kẽm, điều trị tích cực các bệnh kèm theo.

        - Đối với trẻ từ 1 tuần đến 2 tháng: Khuyên bà mẹ cho trẻ bú mẹ. Kiểm tra xem bà mẹ có khó khăn khi nuôi dưỡng trẻ không? Kiểm tra xem trẻ bú có hiệu quả không? (Thời gian trẻ bú, số lần bú và cách ngậm bắt vú). Hướng dẫn bà mẹ cho trẻ bú đúng phương pháp.

 

3. Điều trị suy dinh dưỡng nặng:

 

           Đó là những trẻ mà Cân nặng/Tuổi < 60% hoặc Cân nặng/Tuổi < 80% kèm phù, những trẻ có tình trạng gầy gò nặng, rõ rệt, có thể có hay chưa có các biến chứng. Những trẻ này cần được điều trị tại bệnh viện và phải coi như là bệnh cấp cứu, phải được xử trí kịp thời, tích cực. Phác đồ điều trị SDD nặng hiện nay.

 

3.1 Ăn điều trị là phương pháp chủ yếu để cứu sống bệnh nhân:

 

           - Cần được tích cực thực hiện ngay từ giờ đầu, ngày đầu khi trẻ mới vào viện.

        - Nguyên tắc cho ăn: Ăn nhiều bữa trong ngày. Ban đầu cho ăn 2 giờ/lần kể cả ban đêm, rồi sau đó 3 - 4 giờ/lần trong những ngày sau. Tăng dần calo. Ngay trong tuần lễ đầu nên cho ăn sữa giàu năng lượng được pha như sau tuỳ theo hoàn cảnh có sữa bò tươi, sữa bột hoặc sữa chua.

        Chỉ khi nào trẻ quá nặng, không tự bú tự ăn được thì mới cho trẻ ăn qua sonde hoặc nhỏ giọt dạ dày.

           Cách pha sữa giàu năng lượng (để có 1 Kcal/1 ml sữa): muốn có 1000 ml sữa thì:

 

Sữa bò tươi

Sữa bột toàn phần

Sữa bột tách bơ

Sữa chua

Sữa

Đường

Dầu

Nước

1.000 ml

50 gr

20 gr

0

150 gr

50 gr

10 gr

Đủ 1.000 ml

75 gr

50 gr

60 gr

Đủ 1.000 ml

1.000 ml

50 gr

20 gr

0

           Cho ăn với số lượng tăng dần lên, ban đầu cho 75 Kcal/kg/ngày rồi tăng dần lên 100 Kcal/kg/ngày vào cuối tuần lễ đầu và đến 200 Kcal/kg/ngày vào cuối tuần lễ thứ 2.

Ngày

Loại thức ăn

Số lần ăn/ngày

ml/kg

Kcal/kg

1 - 2

Sữa pha loãng 1/2

12

150

75

3 - 4

Sữa pha loãng 1/3

8 - 10

150

100

5 - 14

Sữa giàu năng lượng

6 - 8

150

150

> 14

Sữa giàu năng lượng + ăn bổ sung

6 - 8

150 - 200

150 - 20

           Nếu trẻ dưới 18 tháng, cần khích lệ mẹ cho con bú sữa mẹ. Nếu trẻ đã bắt đầu ăn sam và trẻ lớn thì ngay sau khi trẻ ăn lại được, ta cần cho thêm các thức ăn bổ sung. Riêng bột thịt, cháo thịt cần cho muộn hơn (vào tuần thứ 2) sau khi biết chắc chức năng gan của trẻ đã trở lại bình thường, các men tiêu hóa đã làm việc lại bình thường.

 

3.2 Những biện pháp điều trị bổ sung quan trọng:

 

           - Uống ORS theo phác đồ điều trị ỉa chảy cấp mỗi khi trẻ tiêu chảy.

        - Cho ăn thức ăn ít muối.

        - Tất cả trẻ SDD nặng đều thiếu vitamin và các chất vi lượng, và mặc dầu trẻ bị thiếu máu nhưng không vì vậy mà cho sắt ngay cho trẻ. Chỉ cho sắt khi trẻ bắt đầu thèm ăn và tăng cân (thường phải mất 2 tuần lễ), nếu không việc cho sắt sớm sẽ làm cho bệnh nhiễm trùng nặng thêm. Bổ sung các vitamin A, acid Folic, kẽm …

           - Điều trị và phòng nhiễm trùng: Đối với trẻ SDD nặng các dấu hiệu nhiễm trùng như sốt thường không có, vì vậy ngay khi trẻ vào viện cho ngay kháng sinh phổ rộng.

3.3 Thực hiện những chăm sóc đặc biệt:

 

           - Trẻ suy dinh dưỡng nặng phải được chăm sóc nhẹ nhàng.

        - Trẻ cần được theo dõi thân nhiệt, không để hạ thân nhiệt. Những trẻ Marasmus có xu hướng hạ thân nhiệt khi trời rét và vào ban đêm. Do đó cần chú ý kiểm soát nhiệt độ phòng, nhất là về đêm. Nhiệt độ phòng thích hợp nhất là 25 - 30°C. Nên cho trẻ nằm cùng mẹ, ủ ấm, không nên nằm cách ly ở phòng cấp cứu.

        - Cần quan sát các dấu hiệu của sốc, hạ đường huyết để xử trí kịp thời. Chú ý cho ăn ban đêm và ăn cách quãng 3 - 4 giờ để đề phòng hạ đường huyết.

        - Phải tận tình và kiên trì vì trẻ SDD nặng thường quá yếu, không muốn ăn, thường bị nôn và ỉa chảy. Do đó phải giữ trẻ sạch, không để mặc quần áo ướt, bẩn.

        - Cha mẹ và nhân viên chăm sóc phải luôn gọi tên trẻ, nói chuyện với trẻ, tỏ ra âu yếm và yêu mến trẻ. Trẻ phải được kích thích tinh thần bằng trò chơi, sách vở, đồ chơi.

 

4. Phục hồi dinh dưỡng sau khi ra viện:

 

           - Trẻ SDD nặng không cần thiết phải nằm điều trị dài ngày trong bệnh viện. Nói chung, với phác đồ điều trị trên, chỉ sau 2 tuần lễ trẻ đã hết phù, bắt đầu lên cân lại và thèm ăn. Ăn được là có thể cho ra viện và tiếp tục phục hồi dinh dưỡng tại nhà hoặc tại 1 trung tâm phục hồi dinh dưỡng là tốt nhất. Muốn làm được điều này, trong thời gian trẻ nằm viện, cần giải thích cho bà mẹ nguyên nhân dẫn đến SDD của trẻ đồng thời hướng dẫn cho bà mẹ cách nuôi trẻ đúng đắn.

        - Khi ra viện, trẻ cần phải được duy trì chế độ ăn uống như trong những ngày nằm viện và trong 3 tháng đầu, trẻ cần được theo dõi và tái khám chặt chẽ.

 

5. Điều trị thất bại phải tìm nguyên nhân xác định:

 

           Nếu điều trị như trên mà tình trạng trẻ xấu đi hoặc không tăng trọng đầy đủ thì cần xét lại các nguyên nhân sau:

        - Chưa phát hiện được ổ nhiễm khuẩn đặc biệt là lao, nhiễm trùng tiết niệu, viêm tai giữa, cốt tủy viêm, áp xe sâu.

        - Cho ăn chưa đủ: Cần kiểm tra lại xem thức ăn có được chuẩn bị tốt không? Có đủ chất lượng và số lượng calo không? Thức ăn có đến miệng đứa trẻ không? Trẻ có ăn hết số lượng hoạch định không?. Thường những trẻ suy dinh dưỡng nặng trong giai đoạn đầu của điều trị rất chán ăn hoặc do bệnh lý, tâm lý hoặc do nhiễm trùng, nấm miệng.

        - Không kiểm soát được ỉa chảy.

        - Có sự ức chế tâm lý do thiếu săn sóc về tình cảm.

        - Trẻ bị suy dinh dưỡng quá nặng, đến quá muộn trong điều kiện không hồi phục được.

 

VII. Chế độ dinh dưỡng:

 

1. Với thể vừa và nhẹ (độ I và độ II): Điều trị tại nhà bằng chế độ ăn và chăm sóc.

 

           - Chế độ ăn: Cho trẻ bú mẹ theo nhu cầu, bất cứ lúc nào kể cả ban đêm.

           - Nếu mẹ thiếu hoặc mất sữa: Dùng các loại sữa bột công thức theo tháng tuổi, hoặc dùng sữa đậu nành (đậu tương).

            Đối với trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên cho trẻ ăn bổ sung theo tháng tuổi nhưng số bữa ăn phải tăng lên, thức ăn phải nấu kỹ, nấu xong ăn ngay.

           - Tăng đậm độ năng lượng của bữa ăn bằng cách cho tăng thêm enzym (men tiêu hóa) trong các hạt nảy mầm để làm lỏng thức ăn và tăng độ nhiệt lượng của thức ăn. Cụ thể là: có thể dùng giá đậu xanh để làm lỏng thức ăn cho trẻ, tức là có thể tăng lượng bột khô lên 2-3 lần mà độ lỏng của bột không thay đổi. Cứ 10g bột cho 10g giá đậu xanh giã nhỏ lọc lấy nước.

 

Những loại thực phẩm nên dùng cho trẻ suy dinh dưỡng:

 

           - Gạo, khoai tây.

           - Thịt: gà, lợn, bò, tôm, cua, cá, trứng.

           - Sữa bột giàu năng lượng: Theo hướng dẫn cụ thể của Bác sĩ.

           - Dầu, mỡ.

           - Các loại rau xanh và quả chín.

 

2. Chế độ ăn với trẻ suy dinh dưỡng nặng (độ III):

 

           Cho nhiều bữa trong ngày.

                    - Tăng dần calo.

                    - Dùng sữa cao năng lượng: Theo chỉ định và tư vấn trực tiếp của Bác sĩ

           Trẻ cần được ăn bổ sung theo các chế độ ăn giống như trẻ bình thường. Số lượng một bữa có thể ít hơn nhưng số bữa ăn nhiều hơn trẻ bình thường.

           Những trẻ có suy dinh dưỡng nặng kèm theo tiêu chảy hoặc viêm phổi phải đưa vào điều trị tại bệnh viện.

 

3.  Ngoài chế độ ăn còn cho trẻ ăn bổ sung thêm một số Vitamin và muối khoáng

 

           - Các loại Vitamin tổng hợp.

           - Chế phẩm có chứa sắt chống thiếu máu.

           - Men tiêu hóa (nhưng phải dùng theo chỉ định của thầy thuốc).

 

4. Chăm sóc trẻ bị suy dinh dưỡng.

 

           - Trẻ phải được vệ sinh, tắm rửa sạch sẽ.

           - Phải giữ ấm về mùa đông, phòng ở thoáng mát về mùa hè, đầy đủ ánh sáng.

 

5. Một số mẫu thực đơn phục hồi trẻ suy dinh dưỡng tại nhà (SDD độ I và II)

 

           Các bạn có thể tham khảo và áp dụng một số thực đơn sau để phục hồi trẻ suy dinh dưỡng tại nhà:

 

5.1 Trẻ dưới 6 tháng: Bú sữa mẹ theo nhu cầu của trẻ. Chú ý chăm sóc dinh dưỡng cho Bà mẹ để mẹ có đủ sữa nuôi con (Bà mẹ cần ăn đủ, ngủ tốt, làm việc nhẹ nhàng). Trường hợp mẹ không đủ sữa mà phải dùng các sản phẩm thay thế sữa mẹ thì phải có chỉ định của Bác sĩ.

 

5.2 Trẻ từ 6 – 12 tháng: Cho trẻ ăn nước cháo xay trộn sữa như trên nhưng tăng thêm lượng thịt, gạo và rau củ, trường hợp trẻ không thích ăn cháo trộn sữa thì dùng sữa cao năng lượng pha với nước sôi để ấm theo hướng dẫn mỗi ngày uống 500ml và cho ăn bột hoặc cháo xay 3 -4 bữa/ngày, trẻ ăn ít có thể tăng số bữa lên, dùng nước giá đậu xanh để làm lỏng thức ăn: 10g giá đậu xanh/10g bột (giá đậu xanh giã nhỏ lọc lấy nước nấu bột).

 

5.3 Trẻ 13 - 24 tháng:

 

6h: 150 – 200ml sữa cao năng lượng

9h: Cháo thịt + rau: 200ml (1 bát ăn cơm)

           - Gạo tẻ: 30g (1 nắm tay)

           - Thịt nạc: 50g (hoặc cá, tôm, cua: 50g, trứng gà: 1 quả)

           - Dầu: 10ml (2 thìa cà phê)

           - Rau xanh: 20g (2 thìa cà phê)

12h: Sữa: 200ml

14h: Chuối tiêu: 1 quả hoặc đu đủ 1 miếng

17h: Cháo thịt (cá, tôm, trứng) + rau + dầu

           Nếu trẻ đang bú mẹ vẫn phải tiếp tục cho bú và thời gian cho bú kéo dài từ 18 – 24 tháng. Khi cai sữa vẫn nên cho trẻ ăn thêm sữa bò hoặc sữa đậu nành.

 

5.4 Trẻ 25 - 36 tháng:

 

7h: Sữa cao năng lượng: 200ml

   11h: Cơm nát + thịt (cá, trứng, tôm...) + canh rau.

           Cơm: 2 lưng bát (70g gạo), thịt: 50g (hoặc trứng: 1 quả), rau: 100g, dầu (mỡ): 5g

   14h: Cháo + thịt + rau + dầu: 200ml

           Gạo tẻ: 30g (1 nắm tay), thịt nạc: 50g (hoặc cá, tôm, cua: 50g, trứng gà: 1 quả), dầu: 10ml (2 thìa cà phê), rau xanh: 20g (2 thìa cà phê).

   17h: Cơm nát + trứng (thịt, cá, tôm...) + canh rau

   20h: Hỗn hợp bột dinh dưỡng: 200ml, hoặc súp: khoai tây thịt + rau + dầu (mỡ): 1 bát con.

           Súp khoai tây gồm có khoai tây: 100g (1 củ to), thịt (gà, bò, lợn): 50g, bắp cải: 50g, dầu (mỡ): 1 thìa cà phê.

           Ăn thêm các loại quả chín theo nhu cầu của trẻ.

 

VIII. Phòng bệnh:

 

1. Những nguyên lý cơ bản trong vấn đề phòng chống SDD: Muốn làm tốt việc phòng chống SDD, chúng ta cần nắm vững những nguyên lý cơ bản sau đây:

 

           - Nguồn gốc SDD được quy về 2 nhóm: nguyên nhân xã hội và nguyên nhân y tế. Do đó, để đảm bảo cho thế hệ tương lai, những người trưởng thành thông minh, có thể lực tốt công tác phòng chống SDD phải trở thành Quốc gia, là trách nhiệm của mỗi người, mỗi gia đình với sự phối hợp của các ngành, các đoàn thể, trong đó ngành y tế chịu trách nhiệm về mặt chuyên môn, dưới sự chỉ đạo của nhà nước.

        -  Cần làm cho mọi người hiểu rõ tầm quan trọng của bệnh, do đó phải đẩy mạnh công tác giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ, chú trọng đến giáo dục dinh dưỡng.

        -  Việc phát hiện và chữa trị sớm SDD nhẹ và trung bình rất quan trọng vì việc điều trị sớm sẽ dễ dàng và ít tốn kém hơn, sẽ cho tiên lượng tốt hơn về chiều cao và trí tuệ. Do đó cần hướng dẫn bà mẹ cách phát hiện sớm SDD và khám sức khỏe định kỳ cho trẻ.

        -  Muốn giảm tử vong của SDD phải tổ chức và thu nhận điều trị tốt SDD nặng.

        -  Vì nguyên nhân trực tiếp của SDD là thiếu dinh dưỡng nên trong mọi thể SDD đặc biệt là SDD nặng, việc ăn uống phải được xem là phương tiện điều trị chủ yếu và được gọi là “ăn điều trị”.

 

2. Những biện pháp đề phòng SDD tại cộng đồng:

 

2.1 Thuộc trách nhiệm ngành y tế: Đó là nội dung CSSKBĐ: Giáo dục sức khỏe, chữa bệnh tại nhà và xử trí vết thương thông thường, chương trình tiêm chủng mở rộng, kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc bà mẹ, trẻ em, đảm bảo thuốc thiết yếu, cải tiến bữa ăn, dinh dưỡng hợp lý, vệ sinh thực phẩm, phòng và chống các bệnh XH và bệnh dịch, cung cấp nước sạch và thanh khiết môi trường. Đối với Việt Nam, thêm 2 điểm: quản lý sức khỏe, kiện toàn mạng lưới y tế.

 

2.2 Đối với ngành nhi khoa: Đó là thực hiện nội dung CSSKBĐ của ngành Nhi, cũng là phương hướng phòng chống SDD của TCYTTG.

- G: Growth monitoring: Theo dõi sự phát triển cân nặng.

- O: Oral rehydration: Phục hồi mất nước do ỉa chảy bằng đường uống.

- B: Breast feeding: Bú mẹ.

- I: Immunization: Tiêm chủng 6 bệnh lây cơ bản cho trẻ dưới 5 tuổi.

- F: Family planning: Kế hoạch hóa gia đình.

- F: Food supplement: Thức ăn bổ sung.

- F: Female education: Giáo dục bà mẹ.

 

2.3 Phòng bệnh suy dinh dưỡng qua chương trình: “Xử trí lồng ghép bệnh trẻ em”: trên thực tế, ở trẻ em đặc biệt là các trẻ suy dinh dưỡng, tử vong không phải do đơn độc 1 bệnh, mà thường do sự kết hợp 2 - 3 bệnh gây ra. Theo chương trình này, tất cả những trẻ bị bệnh khi đến khám tại các cơ sở y tế đều được kiểm tra dấu hiệu suy dinh dưỡng, thiếu máu và được đánh giá chế độ nuôi dưỡng. Tuỳ theo kết quả đánh giá ra sao, bà mẹ trẻ sẽ được tham vấn nuôi dưỡng trẻ. Nhờ vào chương trình này mà chúng ta đã tránh được bỏ sót bệnh, phát hiện được những trẻ mới bị suy dinh dưỡng, cho những lời khuyên dinh dưỡng hợp lý, ngăn ngừa tiến triển bệnh dẫn đến suy dinh dưỡng nặng.

 

3. Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại mỗi gia đình:

 

           - Chăm sóc ăn uống của phụ nữ có thai để đạt mức tăng trung bình 12,5 kg trong thời gian có thai. Khám thai ít nhất 3 lần, tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván.

           - Cho trẻ bú sớm trong nửa giờ đầu sau khi sinh, bú hoàn toàn sữa mẹ trong 4 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 18-24 tháng.

           - Cho trẻ ăn bổ sung (ăn sam, dặm) từ tháng thứ 5. Tô màu đĩa bột, tăng thêm chất béo (dầu, mỡ, lạc, vừng). ăn nhiều bữa.

           - Thực hiện phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng: Phụ nữ có thai uống viên sắt/ acid folic hàng ngày. Trẻ em 6-36 tháng uống vitamin A liều cao 2 lần một năm. Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy, viêm đường hô hấp). Thực hiện tiêm phòng đầy đủ. Chăm sóc và nuôi dưỡng hợp lý trẻ bị bệnh.

           - Phát triển ô dinh dưỡng trong hệ sinh thái VAC (vườn, ao, chuồng) để có thêm thực phẩm cải thiện bữa ăn gia đình. Chú ý nuôi gà, vịt để trứng, trồng rau ngót, đu đủ, gấc.

           - Phấn đấu bữa ăn nào cũng có đủ 4 món cân đối. Ngoài cơm (cung cấp năng lượng), cần có đủ 3 món nữa là: rau quả (cung cấp vitamin, chất khoáng và chất xơ); đậu phụ, vừng lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chất đạm, béo) và canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung giúp ăn ngon miệng.

           - Thực hiện vệ sinh môi trường, dùng nguồn nước sạch, tẩy giun theo định kỳ, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiểu tiện. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm, thức ăn không là nguồn gây bệnh.

           - Thực hiện gia đình hạnh phúc, có nếp sống văn hoá, năng động, lành mạnh. Có biểu đồ tăng trưởng để theo dõi sức khoẻ của trẻ. Không có trẻ suy dinh dưỡng, không sinh con thứ ba.